Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA VÌ - TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2025/HNGĐ - ST

Ngày 09 tháng 04 năm 2025.

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ- HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thưởng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thuật

Ông Nguyễn Đại Huy

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phương, Thư ký Tòa án

nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên toà: Bà Cấn

Thùy Dung, Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 04 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì

xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số:

13/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 về việc tranh chấp: “Hôn

nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXX- ST

ngày 05 tháng 03 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2025/QĐST-

HNGĐ ngày 21/03/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Như Q, sinh năm: 1999;

HKTT: Thôn C, xã N, huyện Đ, Hà Nội.

(Chị Q có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng S, sinh năm: 1998;

Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện B, Hà Nội.

(Anh S vắng mặt tại phiên tòa )

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn ly hôn và biên bản lấy lời khai ngày 23/01/2025 chị Nguyễn Thị

Như Q trình bày như sau: Chị Nguyễn Thị Như Q và anh Nguyễn Hồng S tự

nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã M, huyện B, thành

phố Hà Nội ngày 27/06/2022. Sau khi kết hôn hai vợ, chồng về chung sống với

nhau ngay tại Hà Nội. Cuộc sống vợ, chồng hạnh phúc được thời gian một năm

thì phát sinh mâu thuẫn vợ, chồng. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ, chồng bất đồng

quan điểm sống không có tiếng nói chung nên không có hạnh phúc. Hai vợ,

chồng đã sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ tình cảm từ tháng 06/2024 cho đến

nay.

Nay chị Q xác định tình cảm vợ, chồng giữa chị và anh S không còn, chị Q

đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ba Vì giải quyết cho chị được ly hôn anh S để

giải phóng cho chị Q.

  • * Về con chung: Không có.
  • * Về tài sản riêng: Không có.
  • * Về tài sản chung, công sức chung: Không có.
  • * Về nợ chung: Không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ba Vì đã tiến hành gửi thông

báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập cho anh Nguyễn Hồng S nhiều lần nhưng anh S

không đến Tòa án làm việc, tham gia tố tụng. Vì vậy cán bộ Tòa án nhân dân

huyện Ba Vì cùng với cán bộ xã M đã trực tiếp đến nhà anh S tại: Thôn V, xã M,

huyện B, thành phố Hà Nội nhưng anh S không có nhà, Tòa án nhân dân huyện

Ba Vì đã liên hệ qua điện thoại với bố đẻ của anh S để hẹn anh S xuống Tòa làm

việc nhưng đến ngày hẹn anh S vẫn vắng mặt. Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Ba

Vì đã tiến hành xác minh UBND xã M về tình trạng hông nhân của chị Q và anh

S, kết quả UBND xã M cho biết: Chị Nguyễn Thị Như Q và anh Nguyễn Hồng S

có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã M, huyện B, thành phố Hà Nội ngày

27/06/2022. Sau khi kết hôn thì chị Q và anh S về ở với nhau ngay. Trong quá

trình chung sống thì chị Q và anh S có mâu thuẫn như thế nào thì chính quyền địa

2

phương không biết. Nay chị Q có đơn xin ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết

theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị Q và anh S không có con chung.

Về tài sản riêng, tài sản chung, nợ chung: Chị Q và anh S không có. Tòa án tiến

hành xác minh tại Công an xã M cho biết: Anh Nguyễn Hồng S, sinh năm: 1998

có hộ khẩu thường trú tại: Thôn V, xã M, huyện B, Hà Nội. Anh S không thường

xuyên sinh sống tại địa phương, thỉnh thoảng anh S có về thăm nhà vài hôm rồi

lại đi. Hiện tại anh S ở đâu và làm gì công an xã M không biết.

Trong quá trình giải quyết vụ án do anh S không có mặt tại Tòa án nhân dân

huyện Ba Vì. Nên Tòa án nhân dân huyện Ba Vì đã tiến hành niêm yết các văn

bản tố tụng theo qui định của pháp luật tại: Nhà văn hóa thôn V, xã M, tại trụ sở

UBND xã M và tại trụ sở TAND huyện Ba Vì đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay: Chị Nguyễn Thị Như Q có đơn xin vắng mặt. anh Nguyễn

Hồng S vắng mặt tại phiên tòa. Chủ toạ phiên toà đã công bố lời khai của chị

Nguyễn Thị Như Q và các tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án.

Đại diện VKS huyện B phát biểu quan điểm như sau: Về việc tiến hành tố tụng

của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì đối với các đương sự: Quá tiến hành tố tụng từ

khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử

đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của

chị Nguyễn Thị Như Q. Cho chị Nguyễn Thị Như Q được ly hôn Nguyễn Hồng

S. Về con chung: Không có. Tài sản riêng, chung, công sức, công nợ chung: Chưa

giải quyết. Về án phí: Buộc chị Q phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm

sát, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1].Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Như Q khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với

anh Nguyễn Hồng S có hộ khẩu trường trú tại: Thôn V, xã M, huyện B, thành phố

Hà Nội. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 28; Điểm a, Khoản 1, Điều 35, điểm b,

3

khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết

của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Về sự vắng mặt của đương

sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Như Q có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn

Hồng S vắng mặt lần thứ hai không có lý do, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ

luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Q, anh S theo quy

định của pháp luật.

[2]. Về nội dung:

2.1 Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Như Q và anh

Nguyễn Hồng S là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M,

huyện B, thành phố Hà Nội ngày 27/06/2022. Sau khi kết hôn vợ, chồng về chung

sống với nhau ngay tại Hà Nội. Cuộc sống vợ, chồng hạnh phúc được thời gian

khoảng một năm thì phát sinh mâu thuẫn vợ, chồng. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ,

chồng bất đồng quan điểm sống không có tiếng nói chung nên không có hạnh

phúc. Hai vợ, chồng đã sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ tình cảm từ tháng

06/2024 cho đến nay. Xong hai bên không tìm ra biện pháp cải thiện tỉnh cảm vợ,

chồng, vợ, chồng không còn quan tâm, yêu thương nhau được thể hiện bằng việc

hiện anh S đi làm ăn, sinh sống ở đâu không cho chị Q biết. Do vậy Hội đồng xét

xử thấy có đủ cơ sở để khẳng định mâu thuẫn vợ, chồng giữa chị Q, anh S trầm

trọng kéo dài, tình cảm vợ, chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được,

đời sống chung vợ, chồng giữa chị Q, anh S không thể tiếp tục duy trì. Do đó Hội

đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Q, cho chị Q được

ly hôn anh S để giải phóng cho chị Q.

2.2. Về con chung: Không có.

2.3.Về tài sản riêng, tài sản chung, công sức chung, công nợ chung: Theo chị

Q khai xác định không có. Tuy nhiên hiện nay anh S vắng mặt trong quá trình

Tòa án nhân dân huyện Ba Vì giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa hôm nay.

Do vậy hội đồng xét xử chưa giải quyết tài sản riêng, tài sản chung, công sức,

công công nợ chung. Giành quyền khởi kiện bằng vụ án khác giải quyết tài sản

riêng, tài sản chung và công nợ chung sau ly hôn cho anh S, chị Q sau này nếu có

yêu cầu.

4

2.4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Như Q phải chịu án phí theo quy định của

pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: Khoản 1, Điều 51; Khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia

đình năm 2014.

- Căn cứ Khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39; Khoản 4 Điều 147,

Điều 227, Điều 228, Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số:

326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ

phí tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Như Q đối với anh Nguyễn Hồng S.
  2. Cho chị Nguyễn Thị Như Q được ly hôn anh Nguyễn Hồng S.
  3. Con chung: Không có.
  4. Về tài sản riêng, tài sản chung, công sức chung, công nợ chung: Chưa giải quyết.
  5. Án phí: Chị Nguyễn Thị Như Q phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Q đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai số: 0041093 ngày 13 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì. Nay khấu trừ toàn bộ số tiền tạm ứng án phí vào khoản tiền án phí chị Q phải nộp.
  6. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Như Q và anh Nguyễn Hồng S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

5

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi

hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật

thi ành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hà Nội;
  • - VKS huyện Ba Vì;
  • - THA huyện Ba Vì;
  • - UBND xã Minh Quang. Ba Vì, Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Đức Thưởng

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2025/HNGĐ - ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ - TP. HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 139/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ - TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger