Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 139/2024/HSST

Ngày: 23/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Và Kíu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Doãn Đức Hùng

Ông Đinh Ngọc Hùng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đoàn Bích Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 108/2024/TLST-HS ngày 08/4/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXXST-HS ngày 10/5/2024 đối với bị cáo:

Phạm Xuân H ; giới tính: Nam, sinh năm 1996; Tại: tỉnh Đ .

HKTT: Tổ 4, ấp 3, xã P, huyện V, tỉnh Đ .

Nơi cư trú: Áp S, xã B, huyện T, tỉnh Đ .

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa.

Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Cắt tóc.

Con ông Phạm Xuân V, sinh năm 1968 (còn sống).

Con bà Lưu Thị C, sinh năm 1972 (còn sống).

Bị cáo chưa có vợ, con.

Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 19/12/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai (có mặt).

Người làm chứng: Ông Phạm Xuân V, anh Nguyễn Duy P (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 50 phút ngày 19/12/2023, Công an xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai tiến hành kiểm tra hành chính tại căn nhà không số thuộc ấp S, xã B, huyện T, do Phạm Xuân H thuê của bà Nguyễn Thị L. để hành nghề hớt tóc thì phát hiện đối tượng Nguyễn Duy P đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 nỏ thủy tinh bên trong bám dính chất màu vàng đục, 01 gói nylon bị cắt góc bên trong dính chất màu trắng, 01 bình nhựa, 01 nắp nhựa màu trắng có 02 lỗ nhỏ, 01 ống hút bằng nhựa màu vàng, 01 quẹt gas, 01 xe mô tô biển số 60V7-7542, 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh gắn sim số 0364203050 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ gắn sim số 0352471146. Ngày 20/12/2023, Công an xã B đã chuyển giao hồ sơ, các đối tượng cùng toàn bộ vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom để thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Phạm Xuân H sử dụng ma túy từ tháng 3/2023 đến nay. Năm 2021, Hiếu thuê căn nhà của bà Nguyễn Thị L để kinh doanh tiệm cắt tóc tên “H Barber” (căn nhà gồm 02 ki ốt liền kề, 01 kiot phía trước để kinh doanh và 01 ki ốt bên phải là phòng ngủ của Phạm Xuân D là anh trai của H ). Ngày 12/12/2023, Diệu chấp hành xong án phạt tù về sinh sống một mình tại ki ốt của H thuê. Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 19/12/2023, Hiếu điều khiển xe mô tô biển số 60V7-7542 đến khu nhà trọ “Thanh Bình” thuộc ấp S, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai gặp và mua 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng của người phụ nữ tên S (không rõ nhân thân, lai lịch) và được S cho 01 cái nỏ bằng thủy tinh để sử dụng ma túy. Mua được ma túy, H mang về phòng trọ và chế tạo bộ dụng cụ sử dụng ma túy để sử dụng, H hút được 04 hơi ma túy thì nghỉ và cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy (nỏ thủy tinh vẫn còn chứa ma túy) dưới gầm giường trong phòng ngủ. Khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, H đang ở tiệm cắt tóc thì Nguyễn Duy P đến chơi và cắt tóc, sau khi cắt tóc xong thì P đi vào phòng ngủ của H thấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bên trong thủy tinh vẫn còn ma túy nên P xin H sử dụng thì H đồng ý cho P sử dụng ma túy của mình, P đi vào phòng ngủ của H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra ngồi sử dụng ma túy một mình, còn H vẫn ngồi phía trước tiệm cắt tóc chơi, Phương hút một hơi ma túy rồi đi ra chỗ H cắt tóc ngồi nói chuyện, được khoảng 30 phút P lại đi vào phòng ngủ của H sử dụng ma túy, sử dụng xong lại ra ngồi nói chuyện với H . Khoảng 19 giờ ngày 19/12/2023, Phạm Xuân D ngủ dậy đi qua tiệm cắt tóc của H ngồi chơi cùng H và P. Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, P tiếp tục đi vào phòng ngủ của H sử dụng ma túy thì bị Công an xã B đến kiểm tra bắt quả tang như đã nêu trên.

Ngày 20/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 607/QĐ- KTMT gửi Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai giám định chất ma tuý.

Tại Bản kết luận giám định 2836/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:

  • “- Mẫu chất màu vàng đục bám dính trong 01 nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.
  • - Mẫu chất màu trắng bám dính trong 01 gói nylon bị cắt góc được niêm phong đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng”

Ngày 29/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Xuân H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” để điều tra. Quá trình điều tra H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại bản Cáo trạng số 114/CT-VKS-TB ngày 04/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Phạm Xuân H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đồng thời căn cứ khoản 1 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Xuân H từ 02 (hai) đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Đề nghị tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ma túy sau giám định ký hiệu số: 2836/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; 01 bình nhựa chứa nước, 01 nắp nhựa màu trắng có 02 lỗ nhỏ, 01 ống hút bằng nhựa màu vàng; 01 quẹt gas là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
  • - Đối với điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng, gắn sim 0364203050, quá trình điều tra xác định là tài sản của Nguyễn Duy Ph không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho Phương.
  • - Đối với điện thoại di dộng hiệu OPPO màu đỏ đã qua sử dụng, gắn sim số 0352471146 quá trình điều tra xác định là tài sản của Phạm Xuân D không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho D .
  • - Đối với xe mô tô biển số 60V7-7542, kết quả tra cứu là xe mô tô do ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1982, trú tại xã T, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe. Năm 2022, ông Phạm Xuân V (bố ruột của Phạm Xuân H ) mua xe mô tô biển số 60V7-7542 với giá 3.000.000 đồng của ông Hg. Tuy nhiên, hiện chưa làm việc được với ông H g nên không có căn cứ xử lý, Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau.
  • - Đối với Nguyễn Duy P không góp tiền mua ma túy mà được H cho ma túy sử dụng miễn phí nên hành vi của P không phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, P có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã phạm vào khoản 1 Điều 3 Nghị định 144/2021 NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình. Công an huyện ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định.
  • - Đối với Phạm Xuân D không tham gia sử dụng ma túy cùng H và P, nhưng trước đó Diệu đã có hành vi mua ma túy của Beo để sử dụng trái phép chất ma túy tại bãi đất trống gần phòng trọ, hành vi trên của Phạm Xuân D đã vi phạm vào khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021 NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình. Công an huyện ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định.
  • - Đối với đối tượng tên S là người bán ma túy cho H và B là người bán ma túy cho D, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Bị cáo Phạm Xuân H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo H không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu.

Bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiệm sát; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[1.1] Về sự vắng mặt của người người làm chứng: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt, tuy nhiên đã có lời khai trong quá trình điều tra và không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng số 114/CT.VKS-HS ngày 04/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, các tài liệu chứng cứ và vật chứng của vụ án, đã có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 19/12/2023, tại ấp S, xã B, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Phạm Xuân H đã có hành vi cung cấp địa điểm, ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho Nguyễn Duy P để sử dụng.

Như vậy, đã có đủ căn cứ và cơ sở để xác định hành vi của bị cáo Phạm Xuân H đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo cung cấp địa điểm và ma túy cho người khác sử dụng một cách trái phép, cụ thể là cho đối tượng Nguyễn Duy P sử dụng trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về các chất ma túy của Nhà nước, trực tiếp là hoạt động tàng trữ trái phép và xâm phạm đến an ninh trật tự xã hội nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

  • - Đối với Nguyễn Duy P không góp tiền mua ma túy mà được H cho ma túy sử dụng miễn phí nên hành vi của Phương không phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, P có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã phạm vào khoản 1 Điều 3 Nghị định 144/2021 NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình. Công an huyện ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định.
  • - Đối với Phạm Xuân D không tham gia sử dụng ma túy cùng H và Ph, nhưng trước đó D đã có hành vi mua ma túy của B để sử dụng trái phép chất ma túy tại bãi đất trống gần phòng trọ, hành vi trên của Phạm Xuân D đã vi phạm vào khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021 NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình. Công an huyện ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định.
  • - Đối với đối tượng tên Sáu là người bán ma túy cho H và B là người bán ma túy cho D, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

[4] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy sau giám định ký hiệu số: 2836/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; 01 bình nhựa chứa nước, 01 nắp nhựa màu trắng có 02 lỗ nhỏ, 01 ống hút bằng nhựa màu vàng; 01 quẹt gas là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Đối với xe mô tô biển số 60V7-7542, kết quả tra cứu là xe mô tô do ông Nguyễn Mạnh H g, sinh năm 1982, trú tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe. Năm 2022, ông Phạm Xuân V (bố ruột của Phạm Xuân H ) mua xe mô tô biển số 60V7-7542 với giá 3.000.000 đồng của ông H . Tuy nhiên, hiện chưa làm việc được với ông H nên không có căn cứ xử lý, Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau

[5] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Xét, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân H phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Phạm Xuân H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù kể từ ngày 19/12/2023

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy sau giám định ký hiệu số: 2836/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; 01 bình nhựa chứa nước, 01 nắp nhựa màu trắng có 02 lỗ nhỏ, 01 ống hút bằng nhựa màu vàng; 01 quẹt ga.

(Vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án huyện Trảng Bom theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/4/2024).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Xuân H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh, VKSND huyện Trảng Bom;
  • - Chi cục THADS huyện Trảng Bom;
  • - Công an huyện Trảng Bom;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Và Kíu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HSST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 139/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Xuân H phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger