TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 139/2024/HSPT
Ngày: 02 - 5 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Trực
Các Thẩm phán.
- Ông Trần Minh Châu;
- Ông Phan Thanh Nguyễn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 47/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Phan Văn B do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 306/2023/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Phan Văn B, giới tính: nam; sinh ngày 07 tháng 8 năm 1970, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Tổ 4, ấp 3A, xã T, huyện S, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không;nghề nghiệp: thợ hồ; trình độ học vấn: 02/12; con ông Phan Văn Ph (chết) và bà Nguyễn Thị U (chết); vợ: Nguyễn Thùy L và có 01 người con (sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Huỳnh Thanh Hưng - Luật sư Văn phòng Luật sư Huỳnh Thanh Hưng, Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh - có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Văn B và ông Nguyễn Văn S có quan hệ em vợ - anh rể, nhà ở cạnh nhau thuộc Tổ 4, ấp 3A, xã T, huyện S, Thành phố Hồ Chí Minh. Giữa hai gia đình có mâu thuẫn với nhau về tranh chấp đất đai. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 06/3/2017, sau khi đã uống rượu, ông S đi đến nhà B, đôi bên xảy ra cãi vả, to tiếng về việc tranh chấp đất, ông S được anh Nguyễn Tấn T (con ông S) can ngăn đưa ông S về nhà. Khoảng 15 phút sau, do tức giận, ông S lấy một thanh sắt (dài 01m, đường kính 22mm) đi qua sân nhà B. Thấy vậy, B cầm một cây rựa đi từ trong nhà đi ra. Ông S dùng thanh sắt đánh trúng vào tay trái bị cáo B gây dập ngón II (ngón trỏ) bàn tay trái chảy máu. B dùng tay trái cầm rựa chém trúng vào cổ tay phải của ông S gây thương tích. Sau đó, B đến Công an xã T, huyện S, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc. Ông S được người nhà đưa đến Phòng khám T cấp cứu và chuyển Bệnh viện 115, Thành phố Hồ Chí Minh điều trị thương tích.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 408/TgT.17 ngày 25/5/2017 của Trung tâm Pháp y, Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận thương tích của ông Nguyễn Văn S như sau:
- Vết thương mặt sau cổ bàn tay phải gây đứt gân duỗi cổ tay quay ngắn, dài, gân duỗi dài ngón I, gãy xương thuyền, xương nguyệt, gãy nền xương bàn ngón II và III, đã được điều trị kết hợp xương (Ảnh 1, 2), khâu gân, khâu vết thương, hiện còn:
- + Sẹo kích thước 10,5 x 0,1cm tại mặt sau cổ bàn tay (Ảnh 3,4).
- + Có tổn thương nhánh cảm giác của thần kinh quay tại vết thương.
- + Khám: Rối loạn vận động cổ tay, bàn ngón tay ít.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 24% (hai mươi bốn phần trăm).
- Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn tác động mạnh gây ra.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 175/TgT.20 ngày 16/3/2020 của Trung tâm Pháp y, Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận thương tích của Phan Văn B như sau:
- Theo Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập ngày 16/01/2020: Vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn một sẹo phẳng ngón II bàn tay trái kích thước 1,6 x 0,1cm (ảnh), ổn định.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 01% (một phần trăm).
- Vết thương do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra, không ảnh hưởng đến tính mạng đương sự.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích (giám định bổ sung) số 175.B/TgT.20-21 ngày 12/5/2021 của Trung tâm Pháp y, Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đối với: Tư thế, động tác được mô tả trong Quyết định trưng cầu giám định và Biên bản thực nghiệm điều tra thì trường hợp nào phù hợp gây ra thương tích cho Phan Văn B, đã kết luận:
- Theo thực nghiệm như đương sự Phan Văn B sinh năm 1970 khai thì:
- - Phù hợp gây ra được thương tích ở ngón II (Trung tâm Pháp y đã giám định theo yêu cầu Cơ quan điều tra) và cẳng tay trái của Phan Văn B.
- - Không phù hợp để gây ra thương tích của đương sự Nguyễn Văn S sinh năm 1960.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích (giám định bổ sung) số 408.B/TgT.17-21 ngày 12/5/2021 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đối với: Tư thế, động tác được mô tả trong Quyết định trưng cầu giám định và Biên bản thực nghiệm điều tra thì trường hợp nào phù hợp gây ra thương tích cho Nguyễn Văn S, đã kết luận:
Theo thực nghiệm như đương sự Nguyễn Văn S sinh năm 1960 khai thì phù hợp gây ra được thương tích tại tay phải của đương sự Nguyễn Văn S.
- Không thấy nêu cách thức gây thương tích cho đương sự Phan Văn B sinh năm 1970 nên không đủ cơ sở trả lời.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 306/2023/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: “...
Tuyên bố bị cáo Phan Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, e, x khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 25 tháng 12 năm 2023, bị cáo Phan Văn B có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại việc bản án sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” là oan cho bị cáo, với lý do bị cáo bị ông S cầm thanh sắt đánh vào người nên bị cáo buộc phải dùng cây rựa đang cầm gạt đỡ để bảo vệ mình dẫn đến thương tích của ông S. Bị cáo không cố ý gây thương tích cho ông S.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Phan Văn B thừa nhận có hành vi dùng rựa gây ra thương tích cho bị hại S, tuy nhiên, bị cáo cho rằng hành vi vi phạm của mình là phòng vệ chính đáng trước việc bị hại dùng cây sắt đánh vào người của bị cáo nên bị cáo dùng rựa đang cầm chống đỡ nhưng Cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử tuyên phạt bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là không đúng làm oan sai cho bị cáo. Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Trong phần tranh luận bị cáo đồng ý với bào chữa của Luật sư và không có ý kiến tranh luận, chỉ xin xem xét chấp nhận kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm xét xử vụ án: Với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo Phan Văn B tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy bản án sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Phan Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích” là đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cho rằng hành vi của mình đã gây thương tích cho bị hại là phòng vệ chính đáng, tuy nhiên căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã chứng minh thương tích của bị hại là do bị cáo dùng cây rựa chém vào tay của bị hại gây thương tích. Do vậy đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn B trình bày: Không đồng ý với tội danh Cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử đối với bị cáo và ý kiến kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến tình tiết giữa bị cáo với bị hại có mâu thuẫn từ trước, bị cáo đã bị ông S cầm thanh sắt tấn công trước và rất nhanh chóng không thể né tránh được nên để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của mình, bị cáo dùng rựa gạt đỡ và trúng vào cổ tay phải của ông S gây thương tích. Hành vi của bị cáo B là do phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, nhưng chưa cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự. Do vậy, đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Hủy bản án sơ thẩm và tuyên bị cáo Phan Văn B không phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xuất phát từ mâu thuẫn tranh chấp đất trong nội bộ gia đình với nhau từ trước giữa ông Nguyễn Văn S với Phan Văn B. Vào lúc 17 giờ 15 phút ngày 06/3/2017, đôi bên xảy ra cãi vả, to tiếng về việc tranh chấp đất. Anh Nguyễn Tấn T (con ông S) can ngăn đưa ông S vào nhà. Do tức giận, khoảng 15 phút sau, ông S lấy một thanh sắt (dài 01m, đường kính 22mm) đi qua sân nhà của Phan Văn B. Thấy vậy, B cầm một cây rựa đi từ trong nhà ra sân. Ông S dùng thanh sắt đánh trúng vào tay trái bị cáo B gây dập ngón II (ngón trỏ) bàn tay trái chảy máu. B dùng tay trái cầm cây rựa chém trúng vào cổ tay phải của ông S gây thương tích.
Kết quả giám định pháp y về thương tích của Cơ quan chức nặng xác định: ông Nguyễn Văn S bị thương tích ở tay với tỷ lệ thương tật 24%; Phan Văn B bị thương tích ở tay với tỷ lệ thương tật 01%. Phan Văn B không yêu cầu xử lý hình sự đối với ông S.
Với hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Phan Văn B, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Phan Văn B có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện S trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm là có căn cứ.
Xét yêu cầu kháng cáo kêu oan của bị cáo Phan Văn B, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, do xuất phát từ mâu thuẫn giữa đôi bên về việc tranh chấp đất từ trước dẫn đến việc cãi vả, to tiếng thách thức đánh nhau. Khi ông S cầm cây sắt qua sân nhà của bị cáo B thì bị cáo cũng lấy cây rựa, thể hiện ý thức chủ quan của bị cáo chủ động sẵn sàng dùng hung khí để đánh nhau với ông S. Hành vi bị cáo dùng rựa tấn công ngược lại hành vi của bị hại dùng cây sắt đánh vào tay bị cáo không phải là hành vi phòng vệ nhằm triệt tiêu việc bị ông S tấn công nên hậu quả xảy ra gây thương tích cho ông S được giám định là 24%, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vi phạm pháp luật của mình. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có lời khai không thống nhất, ban đầu bị cáo khai khi bị ông S dùng cây sắt đánh lúc này bị cáo cầm cây rựa tại phần mũi lưỡi rựa nên đưa lên đỡ và lưỡi rựa rót xuống trúng vào tay ông S gây thương tích, sau đó bị cáo lại khai là cầm cây rựa ở phần cán đưa lên đỡ và phần lưỡi rựa trúng tay ông S gây thương tích. Kết quả giám định theo lời khai của bị cáo về hành vi gây thương tích cho ông S xác định, theo trình bày của bị cáo đã thực nghiệm điều tra thì hành vi của bị cáo theo lời khai không thể gây ra thương tích cho ông S. Ngoài ra bị cáo còn cho rằng, lời khai ban đầu sau khi xảy ra sự việc bị cáo đã thừa nhận dùng rựa tấn công bị hại là do bị ép cung, mớm cung nhưng không có gì để chứng minh. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” có cơ sở, đúng pháp luật. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn B, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Trên đây cũng là nhận định của Hội đồng xét xử đối với quan điểm bào chữa của Luật sư cho bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực ngày 01/01/2017.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn B, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 306/2023/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hồ Chí Minh; phạt Phan Văn B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/12/2023).
Giao bị cáo B cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, bị cáo B cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo B thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Bị cáo Phan Văn B phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo đối với bị cáo Phan Văn B).
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Trực |
Bản án số 139/2024/HSPT ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 139/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn B, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 306/2023/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hồ Chí Minh; phạt Phan Văn B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo.Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/12/2023).
