|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – hạnh Phúc |
Bản án số: 139/2024/HS-ST
Ngày 29/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tuấn Linh.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Vượng.
- Ông Trần Hữu Lượng.
- - Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tiến Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 129/2024/TLST-HS, ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023; thông báo về việc thay đổi ngày xét xử số 05/TB-TA ngày 31/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn T; giới tính: Nam; sinh ngày 10 tháng 4 năm 1996 tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ĐKHKTT: thôn G, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Dao; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Hoàng Văn H, sinh năm 1974 và bà Triệu Thị N, sinh năm 1974; anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là thứ hai; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt);
- Người bị hại: Bà Trần Thị S, sinh năm 1984, trú tại thôn A, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Lê Văn T1, sinh năm 1970, trú tại thôn A, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 28/5/2024, Hoàng Văn T, sinh năm 1996, trú tại thôn G M, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn X – Đen – Xám biển số đăng ký 12S1-177.09 đi từ thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc để đi về nhà tại thôn G M, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
Khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, T điều khiển xe đến Km 58 + 915 đường Đ thuộc thôn Đ, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. T điều khiển xe mô tô đi với vận tốc khoảng 60 – 65km/h đi ở phần đường bên phải theo hướng di chuyển. Lúc này Trần Thị S, sinh năm 1984, trú tại thôn A, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn Nâu biển số đăng ký 22K3 – 9219 đi phía trước cùng chiều cách xe mô tô do T điều khiển khoảng 10m với vận tốc khoảng 20km/h – 30km/h, đi khoảng giữa phần đường bên phải theo chiều di chuyển, xe mô tô do S điều khiển đang có tín hiệu đèn xi nhan bên phải. T có ý định vượt xe mô tô do S điều khiển, T bắt đầu điều khiển xe mô tô sang phần đường bên trái theo hướng di chuyển để vượt, T không bật xi nhan hay còi để cảnh báo cho S biết. Khi xe mô tô do T điều khiển cách đuôi xe mô tô do S điều khiển khoảng 3m thì S điều khiển xe mô tô từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái, lúc này T bóp còi cảnh báo nhưng do khoảng cách gần đã xảy ra va chạm, ốp vai càng, cần phanh bên phải xe mô tô do T điều khiển va chạm với giá để chân trước, chân sau bên trái và cần số xe mô tô do S điều khiển.
Hậu quả: Trần Thị S bị thương đi điều trị tại bệnh viện sau đó chết tại nhà; 02 xe mô tô bị hư hỏng.
Kết luận giám định tử thi số 733/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não; vị trí, đặc điểm thương tích trên thân thể đã mô tả ở trên. Cơ chế gây thương tích: Các thương tích trên thân thể Trần Thị S do va đập với vật tày gây ra.
Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 16 giờ 00 phút ngày 28/5/2024 tại thôn Đ, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Khám nghiệm hiện trường theo hướng huyện S đi thành phố T. Trên mặt đường ở khoảng giữa đường có vạch sơn đứt quãng màu vàng, bên phải đường có lề đường rộng 3,96m trải đá, sỏi nhỏ các phương tiện có thể đi lại được. Tiếp đến là rãnh thoát nước có nắp đậy bằng bê tông, bên trái đường tiếp giáp với đường đi vào khu dân cư, là đường đất được trải sỏi, đá nhỏ bằng.
Vùng vết cày trượt mặt đường đặt số 1; xe mô tô biển số 22K3-9219 đặt số 2; vùng mảnh nhựa, kính vỡ đặt số 3; vùng tạp chất màu đỏ, mũ bảo hiểm, mũ áo vải đặt số 4; xe mô tô biển số 12S1-177.09 đặt số 5; xác định điểm mốc, mép đường làm mép chuẩn; lấy cột điện có chữ số TCVN5347.2016 ở bên trái đường làm điểm mốc; lấy mép đường nhựa bên trái làm mép chuẩn để đo vuông góc đến các vị trí dấu vết, phương tiện.
Lòng đường nơi xảy ra tai nạn rộng 7,0m (đo hết đường nhựa), phần đường bên phải (đo từ tâm vạch sơn màu vàng đứt quãng đến mép đường bên phải) rộng 3,06m. Phần tiếp giáp giữa đường ĐT186 (nơi xảy ra tai nạn) với đường đất bên trái rộng 21,0m.
Tại hiện trường trên lòng đường phát hiện vùng vết cày trượt mặt đường dài 6,68m, vùng gồm nhiều vết cày chiều S đi thành phố T tạo thành. Chỗ rộng nhất của vùng vết là 38,0cm, chỗ sâu nhất là 0,5cm. T2 đầu vùng vết đo cách mép chuẩn là 2,56m, tâm cuối vùng vết đo cách mép chuẩn là 2,20m. T2 đầu vùng vết số 01 đo về hướng thành phố T 6,25m, trên lòng đường là tâm đầu trục sau bên phải xe mô tô biển số 22K3 - 9219 đặt số 2, đầu xe quay sang hướng bên phải đường, đuôi xe quay hướng sang mép đường bên trái, xe được dựng chân chống giữa, xe gần như vuông góc với mép đường trái. T2 đầu trục sau bên phải đo cách mép chuẩn là 1,65m.
Từ tâm đầu vùng vết số 1 đo về hướng thành phố T 7,55m. Trên lòng đường là tâm vùng mảnh nhựa kính vỡ đặt số 03, kích thước vùng 1,86 x 1,32m, tâm vùng đo cách mép chuẩn là 2,0m.
Từ tâm đầu vùng vết số 1 đo về hướng thành phố T 7,50m trên lòng đường là tâm vùng chất màu nâu đỏ, mũ bảo hiểm, mũ áo vải đặt số 04, kích thước vùng là (1,60 x 0,60)m, tâm vùng đo cách mép chuẩn là 60cm.
Từ tâm đầu vùng vết số 1 đo về hướng thành phố T 41,8m. Trên lòng đường là tâm đầu trục sau bên trái xe mô tô biển số 12S1 – 177.09 đặt số 05, xe dựng chân chống nghiêng bên trái, đầu xe quay hướng thành phố T, đuôi xe quay hướng S. T2 đầu trục trước bên trái đo cách mép chuẩn là 9,12m. T2 đầu trục sau bên trái đo cách mép chuẩn là 8,60m.
Điểm mốc đo cách mép chuẩn là 6,10m, đo về hướng thị trấn S, huyện S đến tâm đầu vùng vết số 01 là 8,80m. Lòng đường ở vị trí xe mô tô đặt số 05 rộng 9,70m.
Biên bản kiểm tra nồng độ cồn hồi 14 giờ 25 phút, ngày 28/5/2024 tại Km 58+915 ĐT 186 thuộc thôn Đ, xã V, huyện S không phát hiện nồng độ cồn đối với Hoàng Văn T; Biên bản xét nghiệm tìm chất ma tuý hồi 21 giờ 00 phút, ngày 28/5/2024 tại Công an huyện S không có chất ma tuý trong cơ thể Hoàng Văn T.
Kết luận giám định số 749/KL-KTHS ngày 03/6/2024 Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu gửi giám định không có cồn (Ethanol) trong máu của Trần Thị S.
Kết luận giám định mô bệnh học (vi thể) số 745/KL-KTHS ngày 05/6/2024 Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Da: Tổ chức dưới da (mô liên kết) chảy máu, có chỗ hồng cầu đông vón thành đám.
Kết luận giám định số 750/KL-KTHS ngày 05/6/2024 Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không tìm thấy các chất ma túy thường gặp (Morphine; Heroine; Methamphetamine; MDMA; Delta 9 tetrahydrocanabinol; Ketamine) trong mẫu gửi giám định trong máu của Trần Thị S.
Kết luận giám định số: 790/KL-KTHS ngày 22/7/2024 Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Các vết trượt xước, gãy vỡ, biến dạng ở ốp vai càng, cần phanh
bên phải xe mô tô biển số 12S1-177.09 (ảnh 9 trong bản ảnh giám định) hình thành do va chạm với các vết gãy, biến dạng, trượt xước ở giá để chân trước, chân sau bên trái và cần số xe mô tô biển số 22K3-9219 (ảnh 10 trong bản ảnh giám định) là phù hợp; Vị trí va chạm trên mặt đường giữa xe mô tô biển số 12S1-177.09 và xe mô tô biển số 22K3-9219 ở phía trước điểm đầu vết cày trượt mặt đường tại vị trí số 01 trong biên bản khám nghiệm hiện trường và thuộc chiều đường bên trái theo hướng S đi Tuyên Quang là phù hợp.
Kết luận giám định số: 795/KL-KTHS ngày 26/7/2024 Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong 02 (hai) file video gửi giám định ký hiệu A1, A2; Đặc điểm người, phương tiện, chiều hướng di chuyển, vị trí va chạm của các phương tiện khi xảy ra va chạm, đèn tín hiệu các các phương tiện có liên quan đến vụ va chạm trong 02 (hai) file video gửi giám định ký hiệu A1, A2 được mô tả chi tiết trong bản ảnh giám định kèm theo; Không đủ cơ sở để xác định vận tốc của các phương tiện có liên quan ngay trước khi xảy ra va chạm.
Kết luận số 65/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 24/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S Kết luận: Tổng số tiền bị thiệt hại của xe mô tô biển số đăng ký 12S1-177.09 là 1.112.520 đồng.
Kết luận số 66/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 24/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S Kết luận: Tổng số tiền bị thiệt hại của xe mô tô biển số đăng ký 22K3-9219 là 401.500 đồng.
Tại Cáo trạng số 133/CT-VKS ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Hoàng Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần xét hỏi công khai, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương phát biểu luận tội, giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Hoàng Văn T từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang nhận được Quyết định Thi hành án. Giao bị cáo Hoàng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 110.000.000 đồng. Đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề nghị HĐXX xem xét.
Về xử lý vật chứng: Trả lại 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 cho bị cáo Hoàng Văn T. Tịch thu, tiêu hủy 01 bông thấm tạp chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường được đựng trong túi niêm phong.
Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị HĐXX xem xét buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Người đại diện hợp pháp cho bị hại, ông Lê Văn T1 trình bày, trước khi mở phiên tòa giữa bị cáo và gia đình bị hại đã tự thỏa thuận bồi thường dân sự số tiền 110.000.000 đồng. Đến nay ông không đề nghị gì thêm về phần bồi thường dân sự; về phần hình phạt đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xác nhận giữa bị cáo và gia đình bị hại đã tự thỏa thuận về phần bồi thường dân sự, bị cáo đã bồi thường được tổng số tiền là 110.000.000 đồng. Đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật hình sự. Ngoài ra, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện; khám nghiệm tử thi; kết luận giám định, lời khai của nhân chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ đó, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 28/5/2024 tại Km 58 + 915 đường Đ thuộc thôn Đ, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Hoàng Văn T, sinh năm 1996, trú tại thôn G M, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn X – Đen – Xám biển số đăng ký 12S1-177.09 vượt xe đi phía trước không đảm bảo các điều kiện về an toàn (vượt khi xe phía trước cùng chiều chưa tránh về bên phải, không có tín hiệu đè, còi xin vượt) dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số đăng ký 22K3-9219 do Trần Thị S, sinh năm 1984, trú tại thôn A, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang điều khiển (S điều khiển xe mô tô từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái không quan sát). Hậu quả: Trần Thị S bị thương đi điều trị tại bệnh viện sau đó chết tại nhà; 02 xe mô tô bị hư hỏng. Hành vi của Hoàng Văn T đã vi phạm khoản 1, khoản 2, Điều 14 Luật giao thông đường bộ năm 2008.
Vì vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
[2] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hướng xử lý:
Hành vi của bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự, trực tiếp xâm phạm vào các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ. Khi tham gia giao thông bị cáo vượt xe đi phía trước không đảm bảo các điều kiện về an toàn (vượt khi xe phía trước cùng chiều chưa tránh về bên phải, không có tín hiệu đè, còi xin vượt) vi phạm khoản 1, khoản 2, Điều 14 Luật giao thông đường bộ năm 2008.
Hậu quả: bị hại Trần Thị S bị thương đi điều trị tại bệnh viện sau đó chết tại nhà. Vụ việc xảy ra là do lỗi của bị cáo và cũng có một phần lỗi của bị hại. Do vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên HĐXX nhận định: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo là người có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội do lỗi vô ý, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, người bị hại khi tham gia giao thông cũng có một phần lỗi. HĐXX xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung. Mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
Do hiện nay nghề nghiệp chính của bị cáo là công nhân thời vụ, thu nhập không ổn định nên miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị hại cũng có một phần lỗi; đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
[4] Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp. Vì vậy, các chứng cứ có trong hồ sơ đều được thu thập theo trình tự tố tụng và hợp pháp.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và gia đình bị hại đã tự thỏa thuận bồi thường dân sự với tổng số tiền bồi thường là 110.000.000 đồng. Đến nay, đại diện bị hại ông Lê Văn T1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
[6] Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển số đăng ký 12S1-177.09, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Exciter, màu sơn: Xám Xanh Đen, số máy G3D4E1099287, số khung: RLCUG1010LY328254. Xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn của Hoàng Văn T và 01 xe mô tô biển số đăng ký 22K3-9219, nhãn hiệu HONDA, màu sơn: Nâu, số máy: A08E-0901373, số khung: 08026Y051398, đăng ký lần đầu năm 2007, xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn của Lê Văn T3 (xe do Trần Thị S điều khiển). Ngày 02/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã trả lại xe mô tô biển số đăng ký 12S1-177.09, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Exciter, màu sơn: Xám Xanh Đ cho Hoàng Văn T và xe
mô tô biển số đăng ký 22K3-9219, nhãn hiệu HONDA, màu sơn: Nâu cho Lê Văn T1 (anh trai ruột của chồng Trần Thị S) là người đại diện của gia đình Trần Thị S. Nên HĐXX không xem xét.
Đối với 01 bông thấm tạp chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường được đựng trong túi niêm phong. Xét thấy đây là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Hiện nay còn tạm giữ 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Hoàng Văn T hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án, HĐXX xét thấy cần tuyên trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T ngay tại phiên tòa (Theo biên bản giao nhận tài liệu, chứng cứ ngày 29/11/2024).
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang nhận được Quyết định Thi hành án.
Giao bị cáo Hoàng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy 01 bông thấm tạp chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường được đựng trong túi niêm phong.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương ngày 30/10/2024).
- Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Tuấn Linh |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
|
Phạm Văn Vượng – Nguyễn Văn Quang |
Lê Tuấn Linh |
Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 139/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
