TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Trọng Minh Thông; Giáo viên Trường THPT Nguyễn Huệ, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Bà Hoàng Hải Yến; Nguyên Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền, Thư ký Toà án Nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 71/2024/HSST-QĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Hoàng Văn L
(Tên gọi khác: B), sinh ngày 20/01/2007 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKHKTT: P305 G2, khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ở hiện nay: P403 H3 chung cư B, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Số CCCD: [...]; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH, Bộ C2; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn D, sinh năm 1979 và bà Trần Thị C, sinh năm 1984; Vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không.
Về nhân thân: Ngày 16/6/2022, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo Quyết định số: 3311/QĐ-XPHC.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 08/01/2024 cho đến nay; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Hoàng Văn D, sinh năm 1979 và bà Trần Thị C, sinh năm 1984. Nơi cư trú: P403 H3 chung cư B, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế là cha đẻ, mẹ đẻ của bị cáo; Ông D vắng mặt, bà C có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Ngọc Á - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T; Có mặt
- Bị hại: Anh Hà Văn P, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Lô D, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Cháu Đoàn Phi H, sinh ngày 20/11/2009. Nơi cư trú: Thôn L, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của cháu Đoàn Phi H1: Bà Đoàn Thị D1. Nơi cư trú: Thôn L, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, là mẹ đẻ của cháu H1; Vắng mặt.
- + Cháu Nguyễn Văn N, sinh ngày 14/11/2007. Nơi cư trú: Phòng 309 tầng 3 nhà H Khu chung cư P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Văn N: Ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Tuyết . Nơi cư trú: Phòng 309 tầng 3 nhà H Khu chung cư P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; là bố, mẹ đẻ của cháu N. Ông T có mặt, bà T1 vắng mặt.
- + Cháu Nguyễn Đôn H2, sinh ngày 13/5/2009. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Đôn H2: Ông Nguyễn Đôn T2 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1. Nơi cư trú: Kiệt A đường Đ, tổ dân phố T, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; là cha, mẹ đẻ của cháu H2. Ông T2 có mặt, bà L1 vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Viết U, sinh năm 1984; Nơi cư trú: số A N, phường V, thành phố H; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ, ngày 04/6/2023, Đoàn Phi H1 (sinh ngày 20/11/2009) gặp Nguyễn Đôn H2 (sinh ngày 13/5/2009) ở sân chung cư F, chung cư P, phường P, thành phố H. Tại đây, H1 rủ H2 đi trộm cắp tài sản thì Hòa đồng ý. Sau đó, cả hai đi bộ đến nhà anh Hà Văn P ở Lô D N, phường P, thành phố H thì phát hiện nhà mở cửa nên H1 trèo tường rào vào trong sân rồi mở cổng cho H2 đi vào. Cả hai rồi đột nhập vào nhà lấy trộm của anh P 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max rồi tẩu thoát. Do điện thoại không có mật khẩu nên H1 tự đặt mật khẩu máy mục đích để khi tiêu thụ sẽ nói với người mua là máy của H1.
Đến khoàng 06 giờ 30 phút cùng ngày, tại quán G ở đường N, phường P, thành phố H, H1 và H2 gặp Hoàng Văn L và Nguyễn Văn N (sinh ngày 14/11/2007). Lúc này, H1 đưa chiếc điện thoại lấy trộm của anh P đưa cho L và N xem, đồng thời nhờ L và N đi bán lấy tiền thì L và N đồng ý. Sau đó, H1, L, N đi đến cửa hàng mua, bán điện thoại Viết Thịnh do anh Nguyễn Viết U làm chủ ở số A N, phường V, thành phố H. Đến quán, N đứng bên ngoài còn H1 và L vào bán điện thoại cho anh U lấy 2.000.000 đồng.
Sau khi nhận tiền, H1 chia cho L 1.000.000 đồng, nhờ L đưa cho H2 số tiền 400.000 đồng, H1 giữ lại 600.000 đồng. Sau đó, cả nhóm tiêu xài cá nhân hết.
Quá trình điều tra, các đối tượng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 155/KL-HĐĐGTS ngày 10/8/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu đen, số Imel: 357269098155625, số sêri: G6VXMKKPKPHC” có trị giá là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu đen, số Imei: 357269098155625, số sêri: G6VXMKKPKPHC do anh Nguyễn Viết U giao nộp.
- - 01 (một) đĩa CD chứa đoạn video ghi nhận vụ việc trộm cắp do anh Hà Văn P giao nộp.
Về xử lý vật chứng: Người bị hại anh Hà Văn P đã nhận lại tài sản là 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu đen, số Imei: 357269098155625, số sêri: G6VXMKKPKPHC.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hà Văn P đã nhận lại tài sản, không yêu cầu về dân sự và có xin giảm nhẹ hình phạt cho Hoàng Văn L. Quá trình điều tra, anh Nguyễn Viết U yêu cầu Hoàng Văn L phải bồi thường số tiền 2.000.000 đồng.
Trước khi đưa vụ án ra xét xử, anh Nguyễn Viết U có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và không yêu cầu bị cáo L phải bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 117/CT-VKSTPH ngày 21/3/2024, Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Hoàng Văn L về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; áp dụng khoản 1 Điều 233; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn Liên t 06 đến 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 đến 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Hoàng Văn L cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế giáo dục, giám sát trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hà Văn P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Viết U không yêu cầu bồi thường nên không phải xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) đĩa CD chứa đoạn video ghi nhận vụ việc trộm cắp do anh Hà Văn P giao nộp, là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
- Người bào chữa cho bị cáo L - Bà Nguyễn Thị Ngọc Á trình bày: Đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn L. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 323; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 90; Điều 91; Điều 100 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử cho bị cáo Hoàng Văn L mức án phù hợp đối với người chưa thành niên phạm tội, xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hà Văn P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Viết U không yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không phải xem xét, giải quyết.
- Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo đều nhất trí với ý kiến của người bào chữa, không bổ sung gì thêm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị hại anh Hà Văn P; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cháu Đoàn Phi H1, Nguyễn Đôn H2; người đại diện hợp pháp của cháu H1 đã được triệu tập lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Anh Nguyễn Viết U có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy trong quá trình điều tra thì họ đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án, đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì, việc vắng mặt của họ cũng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố H; Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Xét hành vi của bị cáo Hoàng Văn L, thấy rằng: Vào sáng ngày 04/6/2023, tại quán game ở đường N, phường P, thành phố H, Hoàng Văn L và Nguyễn Văn N đã có hành vi tiêu thụ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu đen có trị giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) do Đoàn Phi H1 và Nguyễn Đôn H2 trộm cắp của anh Hà Văn P.
Sau khi bán chiếc điện thoại di động nêu trên cho anh Nguyễn Viết U với giá 2.000.000 đồng, H1 giữ lại 600.000 đồng, chia cho L 1.000.000 đồng, nhờ L đưa cho H2 số tiền 400.000 đồng. Sau đó, cả nhóm tiêu xài cá nhân hết.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Hoàng Văn L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tiêu thụ tài sản do trộm cắp mà có là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Với hành vi và hậu quả nêu trên, bị cáo Hoàng Văn L đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo L và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Xét các căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Hoàng Văn L phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Hoàng Văn L không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; có nơi cư trú rõ ràng, hiện chưa đủ 18 tuổi, có sự quản lý, giám sát của cha mẹ. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới 16 tuổi 04 tháng 15 ngày (chưa đủ 18 tuổi), là độ tuổi chưa phát triển hoàn thiện, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên áp dụng Điều 90; Điều 91; Điều 100 Bộ luật Hình sự cho bị cáo để áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, chính sách nhân đạo của Nhà nước về đường lối xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội. Hội đồng xét xử nhận thấy không cần cách ly bị cáo này ra khỏi cộng đồng xã hội thì bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Hoàng Văn L như đề nghị của người bào chữa cho bị cáo là có cơ sở chấp nhận.
- Về khấu trừ thu nhập: Do bị cáo là người chưa thành niên, không có tài sản và thu nhập, hiện đang sống cùng cha mẹ nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hà Văn P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Viết U không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không phải xem xét, giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) đĩa CD chứa đoạn video ghi nhận vụ việc trộm cắp xảy ra ngày 04/6/2023 tại nhà Lô D N, phường P, thành phố H; là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[8] Các vấn đề khác:
- Đối với Đoàn Phi H1, Nguyễn Đôn H2 và Nguyễn Văn N có hành vi trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trị giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) vào ngày 04/6/2023. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội thì H1 mới 13 tuổi 07 tháng 17 ngày, H2 mới 14 tuổi 01 tháng 10 ngày và N mới 15 tuổi 07 tháng 10 ngày nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H1, H2 và N là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Anh Nguyễn Viết U có hành vi mua tài sản của Hoàng Văn L đem đến bán nhưng không biết rõ tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Văn L, Đoàn Phi H1, Nguyễn Đôn H2, Nguyễn Văn N và các đối tượng khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Hoàng Văn L phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L (Tên gọi khác: B) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 323; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 90; Điều 91; Điều 100 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên: Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn L (Tên gọi khác: B) 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Hoàng Văn L cho UBND phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có trách nhiệm giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự 2019.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa CD chứa đoạn video ghi nhận vụ việc trộm cắp xảy ra ngày 04/6/2023 tại nhà Lô D N, phường P, thành phố H.
4. Về án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hoàng Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương Hồng |
Bản án số 95/2024/TLST-HS ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự: tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 95/2024/TLST-HS
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Hoàng Văn L (Tên gọi khác: B) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
