Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2024/HS-PT

Ngày: 22-8-2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Đại Long.

Các Thẩm phán: Bà Lê Thu Hương và ông Phạm Trường Du

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Ông Lê Công Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 178/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 do Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2024/HS-ST ngày 24 tháng 05 năm 2024 của Tòa án nhân dân, Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2024/QĐXXPT-HS ngày 31/7/2024; Quyết định hoãn số 92/2024/HSPT-QĐ ngày 13/8/2024 đối với các bị cáo có kháng cáo:

1. Đoàn Đình Đ, sinh năm 1988 tại xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Số CCCD: [...], cấp ngày 14 tháng 3 năm 2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đoàn Đình Đ1 ( đã chết) và bà: Đỗ Thị M, sinh năm 1953; Vợ: Mai Thị M1, sinh năm 1994 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2014; Gia đình có 7 chị em bị có là con thứ 6; Tiền án: Không, Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 19/12/2020, bị Công an thị xã N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác.

Bị cáo bị bắt và tạm giữ từ ngày 28/11/2023, đến ngày 06/12/2023 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (có mặt).

2. Đỗ Viết V, sinh năm 1980 tại xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Số CCCD: 0380800201895, cấp ngày 24 tháng 02 năm 2022 nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Viết C, sinh năm 1957 và bà: Lê Thị B, sinh năm 1955; Vợ: Trần Thị H sinh năm 1984; có 01 con sinh năm 2024; Gia đình có 4 anh em bị cáo là con thứ nhất Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 24/2/2006, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành bản án và đương nhiên được xoá án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/11/2023, đến ngày 06/12/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (có mặt).

3. Đỗ Viết M2, sinh năm 1993 tại xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Số CCCD: [...] cấp ngày 11 tháng 8 năm 2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Đỗ Viết V (đã chết) và bà: Vũ Thị C1 sinh năm 1957. Vợ: La Thị T sinh năm 1994; Có 01 con sinh năm 2021; gia đình có 4 chị em bị cáo là con thứ 4; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 27/11/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia (nay là Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn) xử phạt 09 tháng tù về tội chống người thi hành công vụ theo Bản án số 143/2012. Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đương nhiên được xoá án tích; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt và tạm giữ từ ngày 28/11/2023, đến ngày 06/12/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (có mặt).

4. Đỗ Viết T1, sinh năm 1982 tại xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Số CCCD: [...], cấp ngày 16 tháng 12 năm 2021 nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Viết K (đã chết) và bà: Phạm Thị M3, sinh năm 1956; Vợ: Hoàng Thị Đ2 sinh năm 1989. Có 02 con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 02/3/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn xử phạt 20.000.000 đồng về tội đánh bạc theo Bản án số 23/2021/HS-ST. Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đương nhiên được xoá án tích.

Bị cáo bị bắt và tạm giữ từ ngày 28/11/2023, đến ngày 06/12/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (có mặt).

5. Lê Duy B1, sinh năm 1977 tại xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Số CCCD: [...], cấp ngày 07 tháng 4 năm 2023 nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự ; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lê Duy S, sinh năm 1955 và bà: Hồ Thị D sinh năm 1955; Vợ: Lê Thị O, sinh năm 1976; Có 03 con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Gia đình có 4 anh em bị cáo con thứ nhất; Tiền án: Không; tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Tại bản án HSST số 79/2014/HSST ngày 02/07/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia (nay là Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn) xử phạt 7.000.000 đồng về tội đánh bạc; Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đương nhiên được xóa án tích.
  • - Ngày 02/3/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn xử phạt 06 tháng tù về tội đánh bạc theo Bản án số 23/2021/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đương nhiên được xóa án tích;

Bị cáo bị bắt và tạm giữ từ ngày 28/11/2023, đến ngày 06/12/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (có mặt)..

Ngoài ra trong vụ án còn có 2 bị cáo không bị kháng cáo kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 28/11/2023, Đỗ Viết T2 đến nhà anh Đỗ Viết L, sinh năm 1991, ở cùng thôn ngồi chơi, uống nước, sau đó còn có thêm Đỗ Viết M2, sinh năm 1993, trú tại thôn N, xã T, thị xã NNguyễn Đức H1, sinh năm 1992, trú tại thôn Đ, xã T, thị xã N đến ngồi uống nước cùng. Ngồi chơi được khoảng 10 phút, anh H1 ra về trước, anh L cũng đi xuống phường H, thị xã N làm T, còn lại T2M2 ngồi uống nước với nhau thì có Đỗ Viết T1, sinh năm 1982; Đoàn Đình Đ, sinh năm 1988, đều ở thôn N, xã T, thị xã NLê Duy B1, sinh năm 1977, ở thôn T, xã T, thị xã N đến. Tại đây, số người trên nhìn thấy ở phòng ngủ phía trong phòng khách nhà anh L có trải sẵn một chiếc chiếu, trên chiếu có 36 cây bài tú lơ khơ từ A đến 9 nên đã rủ nhau đánh bài ăn tiền dưới hình thức đánh ba cây cầm chương. Trong ván chơi mức tiền đặt cửa là 50.000 đồng, riêng người bốc cái được đặt 100.000 đồng. Ban đầu, mỗi người được chia 3 cây bài để so điểm xác định người cầm chương, ai có số cuối của tổng điểm 3 cây bài cao nhất thì được cầm chương, chịu trách nhiệm trộn bài, chia bài và ăn thua với người chơi khác. Trong ván chơi, mỗi người được chia 3 cây bài để so điểm tính thắng thua, ai có số cuối tổng điểm thấp hơn người cầm chương thì mất số tiền đặt cửa với người cầm chương, ai có số cuối tổng điểm cao hơn người cầm chương thì được người cầm chương trả cho số tiền tương ứng với số tiền đặt cửa. Ngoài ra, những người chơi còn thỏa thuận tỷ lệ ăn thua trong các trường hợp “Đồng hoa”, tức là 3 cây bài có số liên tiếp và đồng chất, “Sáp” tức là 3 cây bài có cùng số, “Mỳ” tức là có tổng điểm 03 cây bài là 10 hoặc 20, trong trường hợp này thì người được điểm “Mỳ” sẽ cầm chương trong ván chơi tiếp theo. Trong lúc số người trên đang đánh bạc, thì có thêm Đỗ Viết V, sinh năm 1980 và Đỗ Văn T3, sinh năm 1984, đều là người thôn P, xã T, thị xã N lần lượt đến tham gia đánh bạc cùng. Đến 14 giờ 45 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang sát phạt nhau trên chiếu bạc, thì bị tổ công tác Công an thị xã N phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 9.500.000 đồng (trong đó Đoàn Đình Đ sử dụng 3.400.000 đồng, Đỗ Viết V 2.450.000 đồng, Đỗ Văn T3 1.600.000 đồng, Đỗ Viết T2 700.000 đồng, Đỗ Viết M2 700.000 đồng, Đỗ Viết T1 350.000 đồng, Lê Duy B1 300.000 đồng); 36 cây bài tú lơ khơ từ A đến 9; 01 chiếu nhựa màu xanh trắng và 07 chiếc điện thoại di động các loại của các đối tượng tham gia đánh bạc.

Tại Kết luận giám định số 4398/KL-KTHS ngày 07/12/2023, Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Số tiền 9.500.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang nêu trên là tiền thật.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 76/2024/HS-ST ngày 24 tháng 05 năm 2024 của Tòa án nhân dân, Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; của Bộ luật hình sự đối với Đỗ Viết V, Đỗ Viết M2, Lê Duy B1;

Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Đoàn Đình Đ;

Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Đỗ Viết T1;

Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Viết M2, Đỗ Viết V, Đỗ Viết T1, Lê Duy B1, Đoàn Đình Đ, Đỗ Văn T3, Đỗ Viết T2 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt:

Đoàn Đình Đ 09 (chín) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ từ 28/11/2023 đến 06/12/2023, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Đỗ Viết V 09(chín) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ từ 28/11/2023 đến 06/12/2023, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Đỗ Viết M2 09(chín) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ từ 28/11/2023 đến 06/12/2023, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Đỗ Viết T1 08(T4) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ từ 28/11/2023 đến 06/12/2023, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Lê Duy B1 09(chín) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ từ 28/11/2023 đến 06/12/2023, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

* Phạt bổ sung Đỗ Viết M2, Đỗ Viết V, Đỗ Viết T1, Lê Duy B1, Đoàn Đình Đ mỗi bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung quỹ nhà nước

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định căn cứ, tội danh, hình phạt chính, đối với các bị cáo Đỗ Văn T3Đỗ Viết T2. Quyết định về hình phạt bổ sung; vật chứng; án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/6/2024 các bị cáo Đỗ Viết M2, Đỗ Viết V, Đoàn Đình Đ, Đỗ Viết T1Lê Duy B1 có đơn kháng cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt và cho được hưởng án treo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:

Tại giai đoạn phúc thẩm các bị cáo trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới đó là:

Bị cáo Đỗ Viết V: Có xác nhận của Trưởng công an xã T là luôn tích cực tham gia các hoạt động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc tại địa phương; UBND xã T xác nhận có nơi cư trú rõ ràng, gia đình hoàn cảnh khó khăn, bản thân là lao động chính trong nhà, chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; Thư cảm ơn đã đóng góp công tác quỹ khuyến học trong những năm qua, riêng năm 2023 là 1.000.000đ; tự nguyện nộp 200.000đ tiền án phí sơ thẩm và 10.000.000 đ hình phạt bổ sung đây là các tình tiết giảm nhẹ mới tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Các bị cáo Đỗ Viết M2, Đoàn Đình Đ đều có đơn xác nhận của UBND xã T xác nhận có nơi cư trú rõ ràng, gia đình hoàn cảnh khó khăn, bản thân là lao động chính trong nhà, chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và đề nghị cho các bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và chấp hành hình phạt tại địa phương; Ủy ban MTTQ xã T xác nhận ủng hộ covid19, ủng hộ thiên tai lũ lụt miền trung; đều tự nguyện nộp 200.000đ án phí sơ thẩm đây là các tình tiết giảm nhẹ mới tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Các bị cáo Đỗ Viết T1Lê Duy B1 đều tự nguyện nộp 200.000đ án phí sơ thẩm; bị cáo T1 có mẹ đẻ là người đã tham gia dân công hỏa tuyến và thanh niên xung phong đây là tình tiết giảm nhẹ mới tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Các bị cáo Đỗ Viết M2, Đoàn Đình Đ, Đỗ Viết V phạm tội ít nghiêm trọng, số tiền sử dụng đánh bạc không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, áp dụng Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày15/4/2022, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo; Nên chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền và gia đình là phù hợp.

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS. Chấp nhận một phần kháng cáo, giữ nguyên hình phạt 9 tháng tù nhưng cho các bị cáo Đỗ Viết M2, Đoàn Đình Đ, Đỗ Viết V được hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

Bị cáo Đỗ Viết T1 năm 2021 vừa phạm tội “Đánh bạc” và Lê Duy B1 năm 2014 và năm 2021 phạm tội “Đánh bạc”, các bị cáo đều có nhân thân xấu về tội “Đánh bạc” nay lại phạm tội “Đánh bạc”, tại cấp phúc thẩm các bị cáo đều không xuất trình thêm được tài liệu nào mới nên không có căn cứ xem xét kháng cáo mức hình phạt mà cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo là phù hợp.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đỗ Viết T1Lê Duy B1 giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các Bị cáo đã biết lỗi, rất hối hận về việc làm của mình, gia đình các bị cáo đều rất khó khăn, là lao động chính trong nhà, rất mong HĐXX xem xét cho các bị cáo được giảm án, được cải tạo tại địa phương, được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng và thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo đều trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên được coi là hợp pháp. Tại phiên tòa các bị cáo không rút đơn kháng cáo, HĐXX chấp nhận đơn của các bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Đỗ Viết M2, Đỗ Viết V, Đoàn Đình Đ, Đỗ Viết T1Lê Duy B1 đều thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể:

Vào hồi 14 giờ 45 phút ngày 28/11/2023, tại nhà anh Đỗ Viết Lthôn P, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, Công an thị xã N bắt quả tang các bị cáo: Đoàn Đình Đ, Đỗ Viết V, Đỗ Văn T3, Đỗ Viết T2, Đỗ Viết M2, Đỗ Viết T1Lê Duy B1 có hành vi đánh bạc trái phép mục đích được thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài ba cây. Tổng số tiền các bị cáo đánh bạc là 9.500.000đ (Chín triệu năm trăm nghìn đồng). Trong đó Đoàn Đình Đ sử dụng 3.400.000 đồng, Đỗ Viết V 2.450.000 đồng, Đỗ Văn T3 1.600.000 đồng, Đỗ Viết T2 700.000 đồng, Đỗ Viết M2 700.000 đồng, Đỗ Viết T1 350.000 đồng, Lê Duy B1 300.000 đồng).

Lời thừa nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo tại cấp phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo và các bị cáo khác ở cấp sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất vụ án:

Vụ án thuộc tội phạm ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của các bị cáo nhưng đã xâm phạm tới trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của xã hội. Là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và đảm bảo tính phòng ngừa chung. Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho các bị cáo là có cơ sở pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của các bị cáo: Nhận thấy, khi lượng hình cấp sơ thẩm có xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của BLHS; Bị cáo Đoàn Đình Đ phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được hưởng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Lê Văn T5 từng có thời gian tham gia phục vụ quân đội công tác trên quần đảo T là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ của cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp với quy định của pháp luật. Tình tiết tăng nặng đối với các bị cáo đều không có.

Tại cấp phúc thẩm các bị cáo trình thêm tình tiết mới đó là:

Bị cáo Đỗ Viết V: Có xác nhận của Trưởng công an xã T là “luôn tích cực tham gia các hoạt động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc tại địa phương”; UBND xã T thị xã N xác nhận có nơi cư trú rõ ràng, gia đình hoàn cảnh khó khăn, bản thân là lao động chính trong nhà, chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; Thư cảm ơn đã đóng góp công tác quỹ khuyến học trong những năm qua, riêng năm 2023 là 1.000.000đ; tự nguyện nộp 200.000đ tiền án phí sơ thẩm và 10.000.000 đ hình phạt bổ sung đây là các tình tiết giảm nhẹ mới tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Các bị cáo Đỗ Viết M2, Đoàn Đình Đ đều có đơn xác nhận của UBND xã T xác nhận có nơi cư trú rõ ràng, gia đình hoàn cảnh khó khăn, bản thân là lao động chính trong nhà, chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và đề nghị cho các bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và chấp hành hình phạt tại địa phương; Ủy ban MTTQ xã T xác nhận ủng hộ covid19, ủng hộ thiên tai lũ lụt miền trung; đều tự nguyện nộp 200.000đ án phí sơ thẩm đây là các tình tiết giảm nhẹ mới tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Các bị cáo Đỗ Viết T1Lê Duy B1 đều tự nguyện nộp 200.000đ án phí sơ thẩm; bị cáo T1 có mẹ đẻ là người đã tham gia dân công hỏa tuyến và thanh niên xung phong đây là tình tiết giảm nhẹ mới tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét thấy kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của các bị cáo:

Đối với bị cáo Đỗ Viết M2; Đỗ Viết V; Đ có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thành khẩn nhận tội, tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo xuất trình nhiều tình tiết giảm nhẹ mới, áp dụng Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày15/4/2022, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo; Nên chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Đỗ Viết M2; Đỗ Viết V; Đoàn Đình Đ và theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xem xét cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương được hưởng án treo, cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung tội phạm. Không được chấp nhận xin giảm nhẹ hình phạt, vì hành của các bị cáo đã được cấp sơ thẩm xem xét, đánh giá về tính chất cũng như vai trò cùng với các bị cáo khác về mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với bị cáo Đỗ Viết T1 năm 2021 phạm tội “Đánh bạc” và Lê Duy B1 năm 2014 và năm 2021 phạm tội “Đánh bạc”, các bị cáo đều có nhân thân xấu về tội “Đánh bạc” và đều mới phạm tội “ Đánh bạc” nay lại phạm tội “Đánh bạc”. Nên không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo xin được giảm án và hưởng án treo, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm xử phạt cho các bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật.

Do vậy, kháng cáo của các bị cáo Đỗ Viết M2, Đoàn Đình Đ Đỗ Viết V là có cơ sở chấp nhận một phần. Kháng cáo của các bị cáo Đỗ Viết T1, Lê Duy B1 không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là áp dụng điểm e Điều 357 của BLTTHS đối với Đỗ Viết M2, Đoàn Đình Đ, Đỗ Viết V chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật. Căn cứ Điều 356 BLHS không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đỗ Viết T1, Lê Duy B1 giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Đỗ Viết M2, Đoàn Đình Đ, Đỗ Viết V được chấp nhận một phần kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; Các bị cáo Đỗ Viết T1, Lê Duy B1 kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Căn cứ điểm a, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Viết T1, Lê Duy B1 giữ nguyên bán án hình sự sơ thẩm số 76/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa về hình phạt.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Đỗ Viết T1, Lê Duy B1.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Viết V, Đỗ Viết M2, Đoàn Đình Đ. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 76/2024/HS-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn tỉnh Thanh Hóa như sau:

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án đối với Đỗ Viết M2, Đoàn Đình Đ, Đỗ Viết V. (áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự đối với Đoàn Đình Đ).

Tuyên bố các bị cáo: Đỗ Viết M2, Đỗ Viết V, Đỗ Viết T1, Lê Duy B1, Đoàn Đình Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt các bị cáo:

  1. L (chín)tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ từ 28/11/2023 đến 06/12/2023. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc bị bắt giam thi hành án
  2. Đỗ Viết T1 8 (T4) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ từ 28/11/2023 đến 06/12/2023. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc bị bắt giam thi hành án.
  3. Đỗ Viết M2 9 (chín) tháng tù cho được hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
  4. Đ (chín) tháng tù cho được hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
  5. Đỗ Viết V 9 (chín) tháng tù cho được hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

- Giao các bị cáo Đỗ Viết M2, Đoàn Đình Đ, Đỗ Viết V cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian các bị cáo thử thách án treo.

- Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Trong trường hợp người đang chấp hành án treo chuyển đi nơi khác thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục có trách nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc thành phố để Công an làm thủ tục cần thiết giao cho cơ quan, tổ chức nơi người đó chuyển đến tiếp tục giám sát, giáo dục và thông báo bằng văn bản cho Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp (thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự).

- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.

* Phạt bổ sung giữ nguyên ở cấp sơ thẩm: Phạt các bị cáo Đỗ Viết M2, Đỗ Viết V, Đỗ Viết T1, Lê Duy B1, Đoàn Đình Đ mỗi bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung quỹ nhà nước.

- Ghi nhận bị cáo Đỗ Viết V đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng), tiền phạt bổ sung để nộp ngân sách nhà nước, theo biên lai thu tiền số 0003735 ngày 25/7/2024 và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0003670 ngày 03/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Ghi nhận các bị cáo Đoàn Đình Đ, Đỗ Viết T1, Đỗ Viết M2, Lê Duy B1 đều đã tự nguyện nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) theo các biên lai thu tiền số 0003672; số 0003673 và số 0003674 cùng ngày 03/6/2024; số 0003676 ngày 04/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi sơn, tỉnh Thanh Hóa.

2. Án phí hình sự phúc thẩm:

* Các bị cáo Đỗ Viết M2, Đỗ Viết V, Đoàn Đình Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

* Các bị cáo Đỗ Viết T1, Lê Duy B1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P7);
  • - TAND, VKSND TX. Nghi sơn Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TX. Nghi sơn Thanh Hóa;
  • - Công an TX. Nghi sơn Thanh Hóa;
  • - UBND xã Thanh Thủy TX. Nghi sơn;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Đại Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HS-PT ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 139/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bài ba cây
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger