Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2024/DS-PT

Ngày: 15 - 8 - 2024

V/v Tranh chấp về quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bích Hạnh.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thanh Ngân.
Bà Đào Thị Thủy.

- Thư ký phiên tòa:

Ông Nguyễn Quang Đại - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang:

Bà Đặng Kim Quang - Kiểm sát viên trung cấp tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 18 tháng 7 và ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 116/TLPT-DS ngày 23 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 116/2023/DS-ST ngày 02/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 120/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 111/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 7 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số: 21/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 7 năm 2024, Thông báo mở lại phiên tòa số: 14/TB-TA ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Dương Văn T, sinh năm 1978.

    Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang, (có mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu Hùng P.

    Địa chỉ: Số H, đường số E, Khu tái định cư T, phường A, Quận N, thành phố Cần Thơ, (có mặt).

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Mười H, sinh năm 1956.

    Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang, (có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Trần Đình K - Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư thành phố C.

    Địa chỉ: Số C, đường M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, (có mặt).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Trần Thị D (V), sinh năm 1956.

      Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang, (có mặt).

    2. Bà Dương Thị Bé T1, sinh năm 1963.

      Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, (vắng mặt).

    3. Bà Dương Thị N, sinh năm 1966.

      Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang, (có mặt).

    4. Ông Lê Kim S, sinh năm 1966.
    5. Anh Lê Văn H1, sinh năm 1999.
    6. Anh Lê Văn Đ, sinh năm 2007.

      Cùng địa chỉ: Số E khu I, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, (vắng mặt).

  4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn Muời H2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông Dương V1, tặng cho ông Dương Văn T là con trai út vào năm 1997, ông Dương Văn T từ nhỏ đã sống chung với ông Dương V1 và bà Nguyễn Thị R (mất năm 1982) cho đến nay. Phần đất này ông Dương V1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998. Năm 1997 ông Dương V1 có lập di chúc để lại toàn bộ phần đất khoảng 9000 m² cho ông Dương Văn T. Năm 2001 ông Dương V1 qua đời. Ông Dương Văn T tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất của ông Dương V1 để lại. Năm 2012 ông Nguyễn Văn M Hai lấn chiếm phần đất của ông Dương Văn T 02 phần theo đo đạc thực tế: phần 1 diện tích 49,4m², phần 2 diện tích là 211,4m². Theo Mảnh trích đo địa chính số 511-2022, ngày 18/11/2022. Nguyên đơn thống nhất kết quả đo đạc và chứng thư thẩm định giá.

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn M Hai trình bày:

Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Dương Văn T. Phần đất ông Dương Văn T tranh chấp với bị đơn trước đây là phần đất viên lang bị đơn giáp với ông Lê Văn T2. Phần đất này cha, mẹ và bị đơn bồi đắp nhiều năm mới được như ngày hôm nay thành đường lộ. Hai phần đất nguyên đơn Dương Văn T cho rằng có tranh chấp đều do bị đơn quản lý, sử dụng từ trước cho đến nay gồm một phần xây miếu thờ từ năm 1998 và phần còn lại là mái che xây dựng từ năm 2017. Nguồn gốc phần đất tranh chấp là do cha, mẹ tặng cho bị đơn, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996. Phần nhà và am thờ tôi xây dựng khoảng 25 năm, xây dựng trên phần đất của bị đơn, không có lấn chiếm. Bị đơn thống nhất kết quả đo đạc và chứng thư thẩm định giá.

Quá trình giải quyết vụ án những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Bà Trần Thị V2 trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Văn Mười H, bà thống nhất lời trình bày của ông Nguyễn Văn Mười H. Phần đất tranh chấp là của cha, mẹ chồng cho đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà thống nhất kết quả đo đạc và chứng thư thẩm định giá.

Bà Dương Thị Bé T1, Dương Thị Bé N1, ông Lê Kim S, anh Lê Văn H1, anh Lê Văn Đ cùng trình bày: Nguồn gốc đất của ông Dương V1 đã cho ông Dương Văn T nên ông Dương Văn T được toàn quyền quyết định, các ông bà không có ý kiến gì khác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 116/2023/DS-ST ngày 02/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Dương Văn T. Buộc bị đơn Nguyễn Văn M Hai phải trả cho nguyên đơn phần đất 113,1 m² và tháo dỡ công trình, kiến trúc trên đất là mái che trên phần đất 113,1 m² (Kèm lược đồ).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/11/2023, bị đơn ông Nguyễn Văn Mười H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận phần diện tích hiện tại mà bị đơn đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự trình bày:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng phần đất 113,1m² là lối đi chung của gia đình ông T, theo Công văn phúc đáp của UBND huyện C vẫn xác nhận hai thửa 116 và 120 là của ông Dương V1 đứng tên, nguyên đơn đang yêu cầu cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần mái che nằm trên phần đất của ông T, yêu cầu Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng trên phần đất tranh chấp nguyên đơn chưa sử dụng ngày nào, mái che, miếu T3, nhà tắm bị đơn sử dụng trên 30 năm nên thuộc quyền sử dụng của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận phần đất diện tích 113,1m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm: Về tố tụng, từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Mười H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn Mười H có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Mười H. Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguyên đơn và bị đơn xác định phần đất tranh chấp tại vị trí số 2 có diện tích là 98,2m² và vị trí 2a có diện tích 113,1m², trên đất tranh chấp có miếu thờ, mái che và nhà tắm của bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án xác định phần đất nguyên đơn đang sử dụng ổn định và được cấp giấy chứng nhận (đã bị thu hồi chưa cấp mới) có nguồn gốc là của ông Dương Vinh t cho, được các anh em thừa nhận không tranh chấp, căn cứ vào đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 09/9/1991 (BL-57) xác định ông Dương V1 kê khai cấp hai thửa 116 và 120, căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn ông Mười H được cấp thửa 111, 112, 113, 140. Như vậy, căn cứ vào lược đồ đo vẽ của Công ty TNHH Đ2 xác định thửa 120 của ông T giáp với thửa 111 của ông Mười H.

Căn cứ vào giấy chứng nhận của bị đơn ông Mười H và lược đồ đo vẽ thực tế của Công ty TNHH Đ2 xác định thì đất của bị đơn sử dụng là một đường thẳng nối dài từ Sông C Dầu chạy dài hết đất tại thửa 113 ông Mười H đã chuyển nhượng cho Nguyễn Thu Đ1, bị đơn xây dựng công trình gồm mái che, miếu T3, nhà tắm nằm gần như ½ mặt tiền đất của thửa 120 của ông Dương Văn T được ông Dương Vinh t cho, cấp sơ thẩm đã ổn định vị trí c là miếu thờ và nhà tắm vị trí d nằm trong phần 2 theo lược đồ đo vẽ của Công ty TNHH Đ2 cho bị đơn ông Mười H, chỉ tuyên buộc bị đơn tháo dỡ mái che tại vị trí b1 có diện tích 24,5m² (theo lược đồ giải thích số 69 ngày 22/7/2024 của Công ty TNHH Đ2 nằm trong phần 2a là đã có lợi cho bị đơn, sau khi xét xử sơ thẩm thì nguyên đơn không kháng cáo. Bởi lẽ qua xem xét thì miếu T3 và nhà tắm của bị đơn xây dựng đã lâu từ thời ông Dương V1 còn sống, thời điểm xây dựng nguyên đơn không ngăn cản hay tranh chấp.

Bị đơn kháng cáo cho rằng phần đất của bị đơn được cấp giấy có chiều ngang 21m cặp sông Cái Dầu, nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn không thể hiện số đo cụ thể, mặt khác, thực tế sử dụng thì những công trình trên đất tranh chấp thuộc thửa 120 là của ông Dương V1, mặc dù giấy đã bị thu hồi, nhưng thực tế thửa đất này ông T vẫn đang quản lý sử dụng, chưa bị thu hồi đất, căn cứ Công văn số 2872 ngày 24/7/2024 của Ủy ban nhân huyện C xác định đất đủ điều kiện cấp lại giấy chứng nhận, nhưng do đang tranh chấp nên Ủy ban nhân dân huyện C chưa cấp lại. Do vậy, xét thấy bị đơn cho rằng phần đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn là không có căn cứ.

Từ những nhận định trên, xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn M Hai là không có căn cứ chấp nhận, chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Mười H.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 116/2023/DS-ST ngày 02 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Văn T về tranh chấp quyền sử dụng đất với bị đơn ông Nguyễn Văn Mười H.

    Buộc bị đơn Nguyễn Văn Mười H phải trả cho nguyên đơn phần đất có diện tích 113,1m² loại đất LNK thuộc một phần thửa 120 tờ bản đồ số 09 và Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn M Hai tháo dỡ công trình, kiến trúc trên đất là mái che có diện tích 24,5m² tại vị trí b1 nằm trong phần đất 113,1m² vị trí 2a đã công nhận cho nguyên đơn ông Dương Văn T (Kèm lược đồ số 69 ngày 22/7/2024 của Công ty TNHH Đ2).

  2. Chi phí thẩm định đo đạc: 9.150.000đồng, bị đơn ông Nguyễn Văn Mười H phải chịu 4.575.000đồng để trả lại cho nguyên đơn đã tạm ứng. Nguyên đơn được nhận lại số tiền này tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành khi bị đơn nộp.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Dương Văn T phải chịu 300.000đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001449 ngày 19/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí.

    Bị đơn ông Nguyễn Văn Mười H phải chịu 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Văn Mười H phải chịu 300.000đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí kháng cáo bị đơn đã nộp theo biên lai thu số 0002694 ngày 13/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 15/8/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - TAND huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Bích Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/DS-PT ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp về quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 139/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Mười H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger