TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1389/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25-9-2024 V/v tranh chấp ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Lệ Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Kiều Thị Thanh Nguyên.
- Bà Trần Công.
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Trúc Ly – Là thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Từ Ngọc Hòa – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1330/2023/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 705/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 535/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Thúy S; sinh năm: 1990. Hộ khẩu thường trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh D; tạm trú: 957 TL0, phường TT, quận BT, Thành phố HCM.
Bị đơn: Ông Trần Minh V; sinh năm: 1985. Hộ khẩu thường trú: ấp E, xã F, huyện G, tỉnh H; tạm trú: 1560B TL0, phường TT, quận BT, Thành phố HCM.
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn – bà Đặng Thị Thúy S trình bày như sau:
Bà và ông Trần Minh V có thời gian tìm hiểu mới tự nguyện tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã F, huyện G, tỉnh H vào ngày 17 tháng 8 năm 2012.
Trong thời gian sống chung, hai người không hợp nhau về tính tình nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Ông V không chăm lo cuộc sống gia đình và con cái, một mình bà vừa lo kinh tế gia đình vừa chăm sóc con cái. Ông V còn thường xuyên nhậu nhẹt về chửi mắng, đánh đập bà. Đến năm 2023, bà cảm thấy không thể chung sống với ông V được nữa nên bà đã dọn ra sống riêng từ đó đến nay. Do thời gian mâu thuẫn và ly thân kéo dài nên hai người đã không còn tình cảm gì với nhau. Bà cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được và tình cảm giữa hai người không còn nên yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống. Mặc dù Toà án đã hòa giải để hai bên trở về đoàn tụ gia đình, cùng chăm lo cho nhau nhưng bà vẫn cương quyết xin ly hôn với ông Vương.
Về con chung: có 02 (hai) con chung là: Trần Vương Triệu V (nam), sinh ngày: 01/10/2015 và Trần Vương Triệu V1 (nam), sinh ngày: 04/6/2019. Bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Sang không yêu cầu ông Vương cấp dưỡng cho hai con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà S tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn – ông Trần Minh V vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn – bà Đặng Thị Thúy S có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn – ông Trần Minh V vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gửi cho Toà án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, vụ án thụ lý đúng thẩm quyền. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn – bà Đặng Thị Thúy S có yêu cầu ly hôn với bị đơn - ông Trần Minh V, ông V cư trú tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn – bà Đặng Thị Thúy S có đơn xin vắng mặt, bị đơn – ông Trần Minh V vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 103/HT, quyển số 01/2012, ngày 17 tháng 08 năm 2012 do Ủy ban nhân dân xã F, huyện G, tỉnh H cấp, cùng lời khai của bà S về việc các đương sự tự nguyện kết hôn với nhau, nên có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa các đương sự là hợp pháp.
Xét yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy bà S yêu cầu được ly hôn với ông V vì cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và thời gian ly thân kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đồng thời, không còn tình cảm với ông V nên yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống. Ông V đã được Toà án thông báo về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đã được triệu tập đến Toà để giải quyết vụ án nhưng ông V không đến Toà, vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Có nghĩa là ông V đã tự tước bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Vì vậy, Hội đồng xét xử lấy yêu cầu khởi kiện, lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án.
Để có căn cứ giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà S và ông V tại địa phương nơi các đương sự cư trú, tuy nhiên, tại địa phương không nhận được yêu cầu hoà giải mâu thuẫn gia đình của bà Đặng Thị Thúy S và ông Trần Minh V. Như vậy, giữa hai đương sự không phát sinh mâu thuẫn phải nhờ chính quyền địa phương giải quyết nhưng bà S đã thừa nhận hết yêu thương, hết tình cảm với ông V và mong muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông V. Hạnh phúc gia đình phải được xây dựng và vun đắp bằng tình yêu thương từ hai phía, tình yêu cũng là nền tảng vững chắc để xây dựng hôn nhân hạnh phúc và bền vững. Tuy nhiên, bà S đã khẳng định không còn yêu thương ông V, không đồng ý đoàn tụ, ông V lại không phản hồi yêu cầu ly hôn của bà S. Giữa hai người đã không tìm thấy tiếng nói chung, không còn yêu thương, tin tưởng lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó việc hàn gắn giữa hai người khó thực hiện được. Nên việc giải quyết ly hôn là cần thiết, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà S.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung là: Trần Vương Triệu V (nam), sinh ngày: 01/10/2015 và Trần Vương Triệu V1 (nam), sinh ngày: 04/6/2019. Bà S có yêu cầu được nuôi cả hai trẻ V và V1. Xét, hiện nay cả hai con đang sống cùng bà S, bà S đang là người trực tiếp chăm sóc hai con tốt. Ông V không có ý kiến phản đối, phản hồi đối với yêu cầu này của bà S. Do đó, chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà S, giao 02 (hai) trẻ V và V1 cho bà S được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà S về việc không yêu cầu ông V cấp dưỡng cho hai con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà S tự khai không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng do bà Đặng Thị Thúy S phải nộp, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà S đã nộp theo biên lai thu số 0026993 ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà S đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.
Đối với ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thấy rằng, các ý kiến và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình thức và nội dung là phù hợp quy định của pháp luật, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Thị Thúy S đối với ông Trần Minh V.
Giấy chứng nhận kết hôn số 103/HT, quyển số 01/2012, ngày 17 tháng 08 năm 2012 do Ủy ban nhân dân xã F, huyện G, tỉnh H cấp không còn giá trị pháp lý kể từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Trần Vương Triệu V (nam), sinh ngày: 01/10/2015 và Trần Vương Triệu V1 (nam), sinh ngày: 04/6/2019. Giao 02 (hai) trẻ V và V1 cho bà S được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà S về việc không yêu cầu ông V cấp dưỡng cho 02 (hai) trẻ V và V1.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà S tự khai không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do bà Đặng Thị Thúy S phải nộp, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà bà S đã nộp theo biên lai thu số 0026993 ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà S đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.
Các đương sự thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
6. Quyền và thời hạn kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Viện Kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Lệ Hoa |
Bản án số 1389/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1389/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Đặng Thị Thúy S yêu cầu ly hôn với ông Trần Minh V
