Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦY NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2024/HS-ST

Ngày 31-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Ninh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Đắc Hân.

Bà Nguyễn Thị Lương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 109/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị M, sinh ngày 02 tháng 12 năm 1966 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Thôn S, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn 7, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh T (đã chết) và bà Trần Thị H; có chồng là Bùi Xuân Đ; có 03 con lớn sinh năm 1989 nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị tạm giữ từ ngày 17/01/2024 đến ngày 22/01/2024 chuyển tạm giam. Ngày 05/4/2024 được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 20 phút, ngày 17/01/2024 tại quán cà phê “Nhung Huyền” thuộc thôn 7, xã Ngũ Lão, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng do Nguyễn Thị M làm chủ, Đội Cảnh sát điều tra trật tự xã hội Công an huyện Thủy Nguyên kết hợp với Công an xã Ngũ Lão kiểm tra, phát hiện bắt quả tang có 04 đôi nam nữ đang có hành vi mua bán dâm tại các phòng trong quán. Cụ thể tại phòng thứ nhất là Bùi Thị Thuỳ D, sinh năm 2001, ĐKTT: thôn 7, xã Minh Tân, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng và Vũ Hồng Nhân, sinh năm 1991, ĐKTT: thôn 3, xã Đông Sơn, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng; phòng thứ hai là Lò Thị T, sinh năm 1994, ĐKTT: thôn Nang Phai, xã Phúc Sơn, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái và Nguyễn Văn Năm, sinh năm 1992, ĐKTT: thôn Tây, xã Thuỷ Triều, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng; phòng thứ ba là Hoàng Thị T, sinh năm 1978, ĐKTT: thôn Nậm Trè, xã Bảo Nhai, Bắc Hà, Lào Cai và Nguyễn Đức Sỹ, sinh năm 1975, ĐKTT: thôn Lãng Cáp, xã Lập Lễ, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng; phòng thứ tư là Phạm Thị K, sinh năm 1984, ĐKTT: Tổ 10, phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng và Nguyễn Phú Cương, sinh năm 1995, ĐKTT: thôn Đầm, xã Thuỷ Triều, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng. Tiến hành kiểm tra, lực lượng Công an đã thu giữ tại phòng thứ nhất là 05 bao cao su chưa qua sử dụng, đều có nhãn hiệu là “Waterslotus”, vỏ màu vàng; tại phòng thứ hai 01 bao cao su đã qua sử dụng và 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu “Waterslotus”, vỏ màu vàng; tại phòng thứ ba 01 bao cao su đã qua sử dụng và 01 vỏ bao cao su màu xanh; tại phòng thứ tư 01 bao cao su đã qua sử dụng và 01 vỏ bao cao su. Tạm giữ trên người của Nguyễn Văn Năm, Nguyễn Đức Sỹ và Nguyễn Phú Cương mỗi người số tiền là 200.000 đồng và trên người Nguyễn Thị M số tiền là 3.500.000 đồng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của Nguyễn Thị M, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị M khai nhận: Từ tháng 5/2023, Nguyễn Thị M thuê mặt bằng tại thôn 7, xã Ngũ Lão, Thuỷ Nguyên của ông Đinh Khắc Bảo, sinh năm 1969, ĐKTT: thôn 2, xã Phả Lễ, huyện Thuỷ Nguyên mở quán cafe “Nhung Huyền” để bán nước và chứa mại dâm. Sau đó lần lượt có Bùi Thị Thuỳ D, Lò Thị T, Hoàng Thị T, Phạm Thị K đến gặp M và đặt vấn đề xin làm gái bán dâm tại quán. M đồng ý và sắp xếp cho mỗi nhân viên một phòng tại quán của mình. M và D, T, T, K thống nhất thoả thuận như sau: Khi có khách nam giới đến quán đặt vấn đề muốn mua dâm thì khách có thể đặt vấn đề trực tiếp với M hoặc nhân viên nữ tại quán. Giá mua dâm là 200.000 đồng/người/lượt, khách có thể đưa tiền cho M hoặc nhân viên. Số tiền này M được hưởng 100.000 đồng, gái bán dâm được 100.000 đồng. Bao cao su sử dụng cho việc bán dâm do gái bán dâm tự chuẩn bị. Các gái bán dâm được M bao nuôi ăn, ở tại quán.

Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 17/01/2024, M đang nằm trong phòng nghỉ thì D gọi M ra thu tiền của khách. M nhận tiền của một nam thanh niên (sau này biết tên là Vũ Hồng Nhân) số tiền 220.000 đồng, trong đó 200.000 đồng là tiền Nhân mua dâm của D và 20.000 đồng tiền mua nước uống. Sau khi đưa tiền cho M thì D và Nhân vào phòng để quan hệ tình dục. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang tại các phòng của quán cà phê 04 đôi nam nữ đang thực hiện hành vi mua bán dâm lần lượt là D và Nhân, T và Năm, T và Sỹ, K và Cường. Thu giữ trên người M số tiền 3.500.000 đồng trong đó có 220.000 đồng là tiền Nhân đưa, số tiền còn lại là tiền cá nhân của M.

Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng bán dâm là D, T, T, K và những đối tượng mua dâm là Nhân, Năm, Sỹ, Cương đều khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên. Trước khi các đối tượng vào phòng đều đã thống nhất số tiền mua bán dâm là 200.000 đồng/người/lượt, Nhân đã trả số tiền trên cho M còn Năm, Sỹ, Cương chưa trả số tiền này.

Trong vụ án này, các đối tượng Bùi Thị Thuỳ D, Lò Thị T, Hoàng Thị T, Phạm Thị K, Vũ Hồng Nhân, Nguyễn Văn Năm, Nguyễn Đức Sỹ, Nguyễn Phú Cương có hành vi mua bán dâm, cơ quan Công an đã ra quyết định xử lý hành chính.

Đối với hành vi của Đinh Khắc Bảo cho M thuê mặt bằng để kinh doanh nhưng không biết M dùng để chứa mại dâm nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 124/CT-VKSTN ngày 31 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Thị M về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Thị M khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Thị M từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù về tội Chứa mại dâm. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án (trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ, tam giam từ ngày 17/01/2024 đến ngày 05/4/2024).

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Ngày 17/01/2024, Nguyễn Thị M đã sử dụng quán cà phê “Nhung Huyền” thuộc quản lý của mình tổ chức cho 04 đôi nam nữ thực hiện việc mua bán dâm và thu lợi bất chính số tiền 400.000 đồng, bị Công an phát hiện bắt quả tang. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Chứa mại dâm theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự.

[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự công cộng. Mại dâm là một tệ nạn xã hội xảy ra khá phổ biến trong đời sống hiện nay gây mất trật tự trị an xã hội, là mầm mống lây lan căn bệnh HIV/AIDS và các bệnh xã hội khác nên cần phải có hình phạt nghiêm buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một gian mới đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, có bố đẻ là ông Nguyễn Quang Tân là người có công với cách mạng đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 327 của Bộ luật Hình sự quy định bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, bị cáo M không có việc làm ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng: Đối với 05 bao cao su chưa qua sử dụng; 03 bao cao su đã qua sử dụng, 03 vỏ bao cao su là công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ; số tiền 4.100.000 đồng, trong đó: 200.000 đồng Nhân mua dâm D trả cho M, thu giữ trong người Nguyễn Văn Năm, Nguyễn Đức Sỹ, Nguyễn Phú Cường mỗi người số tiền 200.000đồng đều là tiền dùng để mua dâm nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước, trả lại cho bị cáo số tiền 3.300.000 đồng là tiền của bị cáo, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Trong vụ án này, các đối tượng Bùi Thị Thuỳ D, Lò Thị T, Hoàng Thị T, Phạm Thị K, Vũ Hồng Nhân, Nguyễn Văn Năm, Nguyễn Đức Sỹ, Nguyễn Phú Cương có hành vi mua bán dâm, cơ quan Công an đã ra quyết định xử lý hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Đối với hành vi của Đinh Khắc Bảo cho M thuê mặt bằng để kinh doanh nhưng không biết M dùng để chứa mại dâm nên Cơ quan điều tra không xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Thị M 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Chứa mại dâm, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt đi chấp hành án (trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ, tam giam từ ngày 17/01/2024 đến ngày 05/4/2024).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 05 bao cao su chưa qua sử dụng; 03 bao cao su đã qua sử dụng, 03 vỏ bao cao su; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 800.000 đồng là số tiền mua dâm, tiếp tục tạm giữ của bị cáo số tiền 3.300.000 đồng để đảm bảo thi hành án theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và Phiếu nhập kho số NK2024/122 ngày 31/5/2024, Biên lai thu tiền số 0007986 ngày 31/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Về án phí hình sự: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Thủy Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên;
  • - CQCSĐT Công an huyện Thủy Nguyên;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Phòng PV06, PC10;
  • - Lưu: VT; HCTP; Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Nam Ninh

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

6

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.

(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân T mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân T mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt".

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:

8

Nơi nhận:

Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải giao hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (tội chứa mại dâm)

  • Số bản án: 138/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Chứa mại dâm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Mận
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger