Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 138/2024/HS-PT

Ngày: 30/7/2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG


- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Quyết.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Vinh; bà Trần Thị Hà

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm H - Kiểm sát viên.

Ngày 30/7/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 90/2024/TLPT-HS ngày 01/4/2024 đối với bị cáo Trần Phú H1, Hoàng Tiến N, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn D, do có kháng cáo của bị cáo Trần Phú H1, Hoàng Tiến N, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn D đối với bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Trần Phú H1, sinh năm 1978. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: Lớp 02/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; bố đẻ: Trần Phú N1 (đã chết); mẹ đẻ: Vũ Thị G, sinh năm 1941; gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là thứ ba trong gia đình; vợ: Ngô Thị T, sinh năm 1975; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2002.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/9/2023 đến ngày 03/10/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt.

2. Họ và tên: Hoàng Tiến N, sinh năm 1980. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: Lớp 5/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; bố đẻ: Hoàng Tiến T, sinh năm 1942 (đã chết); mẹ đẻ: Bùi Thị H2, sinh năm 1941; gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là thứ sáu trong gia đình; vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1982; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2005.

Nhân thân: Bản án số 06/2014/HSST ngày 15/01/2014, Toà án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 15 tháng 12 ngày, về tội “Đánh bạc”. Hiện N đã chấp hành xong án phí, tiền phạt ngày 26/5/2014.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/9/2023 đến ngày 03/10/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn V, sinh năm 1969. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: Lớp 01/10; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; bố đẻ: Nguyễn Văn V1 (đã chết); mẹ đẻ: Giáp Thị B, sinh năm 1943; gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là thứ bốn trong gia đình; vợ: Ngô Thị H3, sinh năm 1976; bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2012.

- Nhân thân:

  • +) Bản án số 27/HSPT ngày 12/4/1991, Toà án nhân dân tỉnh Hà Bắc xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
  • +) Bản án số 28/HSPT ngày 31/3/1992, Toà án nhân dân tỉnh Hà Bắc xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa”. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù của bản án số 27/HSPT ngày 12/4/1991 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Bắc buộc V chấp hành chung cho cả hai bản án là 24 tháng tù.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/9/2023 đến ngày 03/10/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại.

4. Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh năm 1970. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: Lớp 01/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; bố đẻ: Nguyễn Văn K; mẹ đẻ: Phạm Thị K1 (đều đã chết); gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là thứ sáu trong gia đình; vợ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1974; bị cáo có 01 con sinh năm 2001.

Nhân thân: Ngày 26/9/1989, Công an tỉnh H kết luận điều tra, đề nghị truy tố đối với Nguyễn Văn D về tội “Phá huỷ công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”. Tòa án nhân dân tỉnh Hà Bắc xử phạt bị cáo 12 năm tù. Bị cáo đã chấp hành xong.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 28/9/2023 đến ngày 03/10/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt.

Trong vụ án còn có 05 bị cáo khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 01 giờ 00 phút ngày 28/9/2023 tại phòng khách nhà ở của Trần Phú H1, sinh năm 1978 ở thôn T, xã T, huyện L, Công an huyện L phối hợp với Công an xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang kiểm tra bắt quả tang các đối tượng Nguyễn Văn T2, sinh năm 1976 trú tại thôn P, xã P, huyện L; Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1991; Nguyễn Văn H4, sinh năm 1980; Đỗ Văn C, sinh năm 1987 cùng trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện L; Nguyễn Văn D, sinh năm 1970; Nguyễn Văn V, sinh năm 1969; Hoàng Tiến N, sinh năm 1980 cùng trú tại thôn T, xã T, huyện L đang có hành vi đánh bạc, dưới hình thức đánh liêng sát phạt nhau bằng tiền.

Ngoài ra còn có Trần Phú H1 (là chủ nhà); Nguyễn Văn L, sinh năm 1977 trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang ngồi xem các đối tượng đánh bạc.

Vật chứng thu giữ: 02 bộ bài tú lơ khơ, 01 chiếu, 01 thảm nỉ màu đỏ đen.

Kiểm tra, thu giữ trên người và thu giữ tại gian để xe những đồ vật, tài liệu sau: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A17K màu vàng, số tiền 7.730.000 đồng, 01 ví da màu nâu có chữ CEFIRO, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Super Cub màu xanh trắng BKS 34AP-002.27, 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu xanh BKS 98B1-660.99 và 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 34AP-002.27 của Trần Phú H1; 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh, số tiền 10.650.000 đồng, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave anpha màu trắng đen BKS 98B3-715.44 và 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 98B3-715.44 mang tên Mã Văn T3 của Nguyễn Văn L; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A58 màu đen, 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 8 Pro màu trắng, số tiền 2.100.000 đồng, 01 xe máy nhãn hiệu Exciter màu xanh BKS 98F1-211.15 của Đỗ Văn C; 01 điện thoại Iphone 6s Plus màu vàng, số tiền 2.000.000 đồng của Hoàng Tiến N; 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng, số tiền 2.450.000 đồng, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen BKS 98Y2-7790 của Nguyễn Văn T2; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 màu tím, số tiền 1.750.000 đồng, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Loncin màu nâu trắng BKS 98F8-9954 và 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 98F8-9954 mang tên Hoàng Văn H5 của Nguyễn Văn Đ; 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA 1280 màu xanh, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Super Dream màu nâu trắng BKS 29U2-6557 của Nguyễn Văn D; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 2F màu xanh, số tiền 6.950.000 đồng, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave anpha màu xanh BKS 20H9-3511 và 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 20H9-3511 mang tên Long Châu H6 của Nguyễn Văn H4; Số tiền 100.000 đồng của Nguyễn Văn V (BL 135-140; 185; 220-221; 331-332; 350-351),

Cùng ngày Cơ quan điều tra Công an huyện L tiến hành thu giữ 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Kingston 32GB Micro SD, bên trên có ký tự “SDC10132GB 31436-016 AOOLF” là thẻ nhớ camera gắn tại phòng khách nhà Trần Phú H1; 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Kingston 32GB Micro SD, bên trên có ký tự “SDC10132GB 31436-016 AOOLF” là thẻ nhớ camera gắn tại cửa ra vào nhà Trần Phú H1. Cơ quan điều tra đã tiến hành trích xuất 03 file video có tên “143231.avi”, "153311.avi", "171418.avi" ra đĩa DVD-R gửi giám định (BL 141-142).

Tại Kết luận giám định số 2164/KL-KTHS ngày 08/11/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B, kết luận:

“1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong 03 file video được lưu trữ trong 01 đĩa DVD-R gửi giám định sau: File video có tên "143231.avi"; dung lượng 15,7MB; thời lượng 10 phút 06 giây; File video có tên “153311.avi"; dung lượng 16,4MB; thời lượng 10 phút 06 giây; File video có tên “171418.avi"; dung lượng 16,7MB; thời lượng 10 phút 06 giây.

2. Trích xuất được 06 hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong file video gửi giám định trên.” (BL 123-127).

Cơ quan điều tra đã tiến hành mở niêm phong và kiểm tra điện thoại thu giữ của các đối tượng, kết quả: Phát hiện lịch sử cuộc gọi giữa H1, N, L liên quan đến việc rủ đánh bạc và vay tiền để đánh bạc; lịch sử chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng giữa C (Ngân hàng Q mang tên Đỗ Văn C), L (Ngân hàng V2 số 0379421683 mang tên Nguyễn Văn L), Đ (Ngân hàng Q1 mang tên Nguyễn Văn Đ) để đổi tiền mặt sử dụng để đánh bạc lấy tiền tài khoản ngân hàng và ngược lại (BL 168, 271, 307, 324).

Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận như sau: Khoảng 21 giờ ngày 27/9/2023, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn V, Đỗ Văn C đến nhà Trần Phú H1 ở thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang chơi. Sau đó, V, D, C rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “liêng” sát phạt nhau bằng tiền tại nhà của H1, H1 đồng ý. Do ít người chơi nên H1 đã gọi điện cho Nguyễn Văn H4Hoàng Tiến N rủ đến đánh bạc cùng thì H4N đồng ý. Do N không có tiền đánh bạc nên đã gọi điện cho L hỏi vay số tiền 5.000.000 đồng để đánh bạc ở nhà H1 thì L đồng ý cho N vay. Sau đó, H4, N, L, Nguyễn Văn T2 đến nhà H1 (L đến để cho các đối tượng vay tiền đánh bạc). Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, H1 trải chiếu, thảm nỉ ra sàn nhà và lấy 02 bộ bài tú lơ khơ có sẵn trên kệ tivi để xuống chiếu. Khi T2, C, D, V, H4, N ngồi xuống chiếu bạc thì L đưa cho N vay số tiền 5.000.000 đồng để đánh bạc, C chuyển cho L 2.000.000 đồng vào tài khoản để đổi lấy 2.000.000 đồng tiền mặt sử dụng đánh bạc. Sau đó T2, C, D, V, H4, N bắt đầu đánh bạc còn H1L ngồi ngoài xem.

Các đối tượng đánh bạc quy ước: Mỗi ván người chơi đóng vào giữa (gọi là đóng gà) 50.000 đồng. Sau đó người chia bài là người tố đầu tiên và chỉ được tố 50.000 đồng (hoặc là úp bài), người kế tiếp được quyền tố tối đa thừa lên 200.000 đồng (tức tối đa vào 250.000 đồng hoặc úp bài), người liền kề tiếp theo được quyền tố tối đa thừa lên 200.000 đồng (tức tối đa vào 450.000 đồng hoặc úp bài), người liền kề tiếp theo được quyền tố tối đa thừa lên 200.000 đồng (tức tối đa vào 650.000 đồng hoặc úp bài)... đến khi người chơi cân bằng lượng tiền tố thì sẽ lật bài để tính điểm. Các đối tượng thống nhất trong 08 ván đầu tiên, mỗi ván sẽ bỏ ra 50.000 đồng trong tiền gà để nộp cho H1, người có bài “Sáp” nộp cho H1 50.000 đồng, người có bài “Liêng đồng chất” nộp cho H1 300.000 đồng.

Cách tính điểm lần lượt từ bài có điểm cao đến bài có điểm thấp: Bài sáp là cao nhất (gồm sáp 03 quân A đến sáp 03 quân 2), tiếp theo bài Liêng (bộ dây gồm 03 quân liền kề nhau, từ QKA đến A23), tiếp theo bài ảnh (gồm 03 quân có hình người nhưng không trùng nhau và không liền kề nhau, ví dụ KKQ), tiếp theo là bài 9 đến bài 0 (bài có điểm 0 là bài có tổng 03 quân về tròn 10 hoặc 20, từ quân 10-K được tính là 0, ví dụ 884, KQ10 là bài điểm 0). Trong trường hợp những người đánh bạc mà có điểm bằng nhau thì sẽ so chất của quân bài, theo thứ tự từ cao xuống thấp Rô, C1, B1, T4). Trong 01 ván chơi chỉ có duy nhất 01 người thắng bạc và được thu hết số tiền góp gà và tiền tố ở dưới chiếu.

Khi các đối tượng đánh bạc đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì Nguyễn Văn Đ đến vào tham gia đánh bạc. Lúc này, H1 đã nhận được tổng số tiền 950.000 đồng tiền phế của các đối tượng tham gia đánh bạc. Đến khoảng 01 giờ ngày 28/9/2023 thì các đối tượng nghỉ chơi, Đ lấy 2.000.000 đồng tiền mặt (tiền đánh bạc) đổi cho L lấy tiền tài khoản ngân hàng, C lấy 3.000.000 đồng tiền mặt (tiền đánh bạc) đổi cho L lấy tiền tài khoản ngân hàng. ĐC đưa cho L 5.000.000 đồng tiền mặt L chuyển khoản cho C 5.000.000 đồng rồi C chuyển khoản cho Đ 2.000.000 đồng thì bị Công an huyện L phối hợp Công an xã T, huyện L kiểm tra, bắt quả tang thu giữ các tang vật có liên quan.

Quá trình điều tra xác định số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau:

  • - Trần Phú H1 không tham gia đánh bạc nhưng trực tiếp nhận số tiền 950.000 đồng tiền phế.
  • - Đỗ Văn C khai mang theo 1.350.000 đồng tiền mặt và đổi tiền tài khoản cho L 2.000.000 đồng. Tổng số tiền C sử dụng để đánh bạc là 3.350.000 đồng. Quá trình đánh bạc C thắng bạc, có 5.100.000 đồng, C đổi 3.000.000 đồng tiền mặt lấy 3.000.000 đồng tiền tài khoản cho L, còn 2.100.000 đồng tiền mặt để trên người đã bị thu giữ.
  • - Hoàng Tiến N khai N vay của Nguyễn Văn L 5.000.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc N thắng bạc số tiền 7.000.000 đồng. N trả lại L 5.000.000 đồng đã vay trước đó, còn 2.000.000 đồng để trên người đã bị thu giữ.
  • - Nguyễn Văn V khai mang theo 1.300.000 đồng để đánh bạc và bị thua hết. Viên vay của L 3.000.000 đồng để tiếp tục đánh bạc (tổng số tiền V dùng đánh bạc là 4.300.000 đồng). Khi kết thúc đánh bạc, V thua còn 100.000 đồng để trên người đã bị thu giữ.
  • - Nguyễn Văn T2 khai mang theo số tiền 2.900.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc T2 thua bạc còn 2.450.000 đồng trên người đã bị thu giữ.
  • - Nguyễn Văn H4 khai mang theo 5.400.000 đồng, sử dụng 900.000 đồng để đánh bạc. Khi kết thúc đánh bạc, H4 thắng 1.550.000 đồng, có 6.950.000 đồng trên người bị thu giữ (trong đó 2.450.000 đồng là tiền đánh bạc, còn lại 4.500.000 đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc).
  • - Nguyễn Văn D khai mang theo 420.000 đồng sử dụng để đánh bạc và bị thua hết.
  • - Nguyễn Văn Đ khai mang theo số tiền 1.000.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc Đ thắng bạc số tiền 3.750.000 đồng, Đ đổi 2.000.000 đồng tiền mặt lấy 2.000.000 đồng tiền tài khoản cho L, còn 1.750.000 đồng để trên người đã bị thu giữ.
  • - Nguyễn Văn L không tham gia đánh bạc nhưng L đã cho N vay 5.000.000 đồng để đánh bạc. L đổi 2.000.000 đồng tiền mặt lấy 2.000.000 đồng tiền tài khoản với C. L cho V vay 3.000.000 đồng để đánh bạc. Khi L đang đổi tiền tài khoản cho C 3.000.000 đồng, cho Đ 2.000.000 đồng thì bị phát hiện thu giữ.

Tổng số tiền xác định các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc ngày 27/9/2023 là 21.800.000 đồng.

Đối với Trần Phú H1 là chủ nhà mặc dù không tham gia đánh bạc xong H1 đồng ý cho các đối tượng đánh bạc tại nhà, là người trực tiếp trải chiếu, thảm nỉ ra sàn nhà, lấy 02 bộ bài tú lơ khơ có sẵn trên kệ tivi để xuống chiếu cho các đối tượng đánh bạc, thu tiền phế (tiền hồ) của các đối tượng đánh bạc nên hành vi của Trần Phú H1 cấu thành tội “Gá bạc”; còn đối với Nguyễn Văn L mặc dù không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng khi biết các đối tượng đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền đã đổi tiền và cho các đối tượng vay tiền để đánh bạc nên hành vi của L đồng phạm về tội "Đánh bạc".

Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra xác định đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu xanh BKS 98B1-660.99 không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra ra quyết định tách vật chứng. Còn 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A17K màu vàng, 01 ví da màu nâu có chữ CEFIRO, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Super Cub màu xanh trắng BKS 34AP-002.27, 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave anpha màu trắng đen BKS 98B3-715.44, 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A58 màu đen, 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 8 Pro + 5G màu trắng, 01 xe máy nhãn hiệu Exciter màu xanh BKS 98F1-211.15, 01 điện thoại Iphone 6s Plus màu vàng, 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng, số tiền 2.450.000 đồng (được niêm phong), 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen BKS 98Y2-7790, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 màu tím, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Loncin màu nâu trắng BKS 98F8-9954, 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA 1280 màu xanh, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Super Dream màu nâu trắng BKS 29U2-6557, 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 2F màu xanh, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave anpha màu xanh BKS 20H9-3511, 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 98F8-9954 mang tên Hoàng Văn H5, 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 98B3-715.44 mang tên Mã Văn T3, 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 20H9-3511 mang tên Long Châu H6, 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 34AP-002.77, 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Kingston 32GB Micro SD, bên trên có ký tự “SDC10132GB 31436-016 AOOLF", 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Kingston 32GB Micro SD, bên trên có ký tự “SDC10132GB 31436-016 AOOLF”, số tiền 33.730.000 đồng, Cơ quan điều tra chuyển xử lý cùng vụ án.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số: 01/CT-VKS ngày 20/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố:

  • - Trần Phú Huấn về tội Gá bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
  • - Các bị cáo: Đỗ Văn C, Hoàng Tiến N, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn ĐNguyễn Văn L về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự (viết tắt là BLHS).

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:

  1. Căn cứ Điểm c khoản 1 và 3 Điều 322; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  2. Xử phạt bị cáo Trần Phú H1: 12 (mười hai) tháng tù về tội Gá bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ bị cáo từ ngày 28/9/2023 đến ngày 03/10/2023. Tổng số 06 ngày (sáu ngày).

    Phạt tiền bị cáo 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) sung công quĩ Nhà nước.

  3. Căn cứ: Khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  4. Xử phạt bị cáo Hoàng Tiến N: 09 (chín) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ bị cáo từ ngày 28/9/2023 đến ngày 03/10/2023. Tổng số 06 ngày (sáu ngày).

    Phạt tiền bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung công quĩ Nhà nước.

  5. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  6. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V: 08 (tám) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ bị cáo từ ngày 28/9/2023 đến ngày 03/10/2023. Tổng số 06 ngày (sáu ngày).

    Miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

  7. Căn cứ: Khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  8. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D: 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ bị cáo từ ngày 28/9/2023 đến ngày 03/10/2023. Tổng số 06 ngày (sáu ngày).

    Phạt tiền bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung công quĩ Nhà nước.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt với 05 bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi án sơ thẩm xét xử xong, ngày 05/3/2024, bị cáo Trần Phú H1, Nguyễn Văn V, Hoàng Tiến N, Nguyễn Văn D có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trần Phú H1 thay đổi kháng cáo, bị cáo không xin giảm nhẹ hình phạt nữa, chỉ kháng cáo xin được hưởng án treo. Bị cáo có xác nhận của chính quyền địa phương về việc bị cáo chấp hành tốt chủ trương, chính sách của địa phương, bị cáo đã nộp tiền phạt bổ sung và tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo là trụ cột gia đình, nuôi mẹ già và con nhỏ, bị cáo bị vỡ gót chân nên thường xuyên đau nhức nên đề nghị HĐXX cho bị cáo hưởng án treo.

Bị cáo Nguyễn Văn V thay đổi kháng cáo, bị cáo không xin giảm nhẹ hình phạt nữa, chỉ kháng cáo xin được hưởng án treo. Bị cáo có mẹ già, con nhỏ bị bệnh tim bẩm sinh. Ông Ngô Đình D1 là bố vợ bị cáo có Huân chương.

Bị cáo Hoàng Tiến N thay đổi nội dung kháng cáo chỉ xin hưởng án treo. Bị cáo có mẹ già đã 84 tuổi cần chăm sóc. Bị cáo đã nộp tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm. Bố vợ bị cáo là ông Nguyễn Văn T5 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất.

Bị cáo Nguyễn Văn D thay đổi kháng cáo chỉ xin hưởng án treo. Bị cáo bị bệnh tiểu đường lâu năm. Bị cáo đã nộp tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo biết bị cáo sai, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Phú H1, Hoàng Tiến N, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn V, sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.

Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các bị cáo không có tranh luận gì.

Bị cáo H1 nói lời sau cùng: Bị cáo mong HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo N nói lời sau cùng: Không có ý kiến gì

Bị cáo V nói lời sau cùng: Không có ý kiến gì

Bị cáo D nói lời sau cùng: Không có ý kiến gì

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Phú H1, Hoàng Tiến N, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn D nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội:

Tối ngày 27/9/2023, Trần Phú H1 có hành vi sử dụng địa điểm là nhà ở tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang để cho các đối tượng Nguyễn Văn T2, Đỗ Văn C, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn H4, Hoàng Tiến N, Nguyễn Văn Đ đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh liêng, thu lời bất chính 950.000 đồng. Nguyễn Văn L cho N, V vay tiền để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Đến khoảng 01 giờ ngày 28/9/2023 thì bị Công an huyện L phối hợp cùng Công an xã T, huyện L phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc ngày 27/9/2023 là 21.800.000 đồng.

Do đó hành vi của các bị cáo: Đỗ Văn C, Hoàng Tiến N, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn Đ phạm tội Đánh bạc. Số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 21.800.000, nên hành vi của các bị báo đã phạm vào khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn L không tham gia trực tiếp đánh bạc, nhưng khi thấy các bị các khác đánh bạc, đã cho các bị cáo N vay 5.000.000 đồng, V vay 3.000.000 đồng và đổi cho C 2.000.000 đồng để các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc. Nên hành vi của bị cáo L cũng phạm tội đánh bạc với vai trò đồng phạm giúp sức.

Bị cáo Trần Phú H1 không trực tiếp tham gia đánh bạc. Nhưng khi D, VC rủ nhau đánh bạc tại nhà bị cáo, thì bị cáo đồng ý ngay; bị cáo đã chủ động gọi điện thoại cho H4N đến đánh bạc. Ngoài ra bị cáo chuẩn bị bài T6 lơ khơ, chiếu, thảm để phục vụ cho việc đánh bạc. Bị cáo cũng thu tiền hồ của các bị cáo khác, nhằm mục đích trục lợi từ các con bạc. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tôi Gá bạc được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo thì thấy:

Tại Tòa án cấp phúc thẩm các bị cáo nộp thêm một số tài liệu, chứng cứ mới:

  • - Bị cáo Trần Phú H1 có xác nhận của địa phương về việc trước khi phạm tội bị cáo chấp hành tốt chủ trương, chính sách của địa phương, pháp luật của nhà nước, bị cáo tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung và án phí của bản án sơ thẩm.
  • - Bị cáo Nguyễn Văn V có bố vợ là Ngô Đình D1 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì.
  • - Bị cáo Hoàng Tiến N đã tự nguyện nộp 10.200.000đ tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo có bố vợ là ông Nguyễn Văn T5 được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ giải phóng hạng nhất.
  • - Bị cáo Nguyễn Văn D đã tự nguyện nộp 10.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm.

Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần áp dụng cho bị cáo.

Xét thấy, các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Các bị cáo Nguyễn Văn V, Hoàng Tiến N, Nguyễn Văn D hành vi phạm tội ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc ít. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Ngoài ra bị cáo Trần Phú H1 bị vỡ xương gót chân, bị cáo Nguyễn Văn D bị bệnh đái tháo đường cần điều trị thường xuyên. Đối với các bị cáo Hoàng Tiến N, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn D mặc dù có nhân thân xấu, tuy nhiên đối với các hành vi này xảy ra đã lâu, các bị cáo đều đã chấp hành xong. Căn cứ Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, các bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo, giao các bị cáo Trần Phú H1, Hoàng Tiến N, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn D cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách như ý kiến của Viện KSND tỉnh B tại phiên tòa phúc thẩm đã đề nghị nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo bị cáo Trần Phú H1, Hoàng Tiến N, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn D được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Phú H1, Hoàng Tiến N, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn V. Sửa bản án sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

  1. Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự.
  2. Xử phạt bị cáo Trần Phú H1: 12 (mười hai) tháng tù về tội Gá bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Xác nhận bị cáo Trần Phú H1 đã nộp 13.420.000 đồng tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai số 0003168 ngày 30/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam.

  3. Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự.
  4. Xử phạt bị cáo Hoàng Tiến N: 09 (chín) tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Xác nhận bị cáo Hoàng Tiến N đã nộp 10.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai số 0000737 ngày 22/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam.

  5. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự.
  6. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V: 08 (tám) tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

  7. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự.
  8. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D: 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm

    Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn D đã nộp 10.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai số 0000734 ngày 21/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam.

    Giao các bị cáo Trần Phú H1, Hoàng Tiến N, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn D cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    * Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    * Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  9. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội

Các bị cáo Trần Phú H1, Hoàng Tiến N, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn D không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - CA, VKS, TA huyện Lục Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, HСТР.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ




Đặng Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/HS-PT ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (gá bạc, đánh bạc)

  • Số bản án: 138/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Gá bạc, Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Phú H và đồng phạm phạm tội Tổ chức đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger