Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SL

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 138/2024/HS-ST

Ngày 29 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SL, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Thị Mai Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cà Văn Thanh

Ông Hoàng Ngọc Hùng

- Thư ký phiên toà: Bà Cà Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố SL, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Tòng Thanh Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 29/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố SL, tỉnh Sơn La mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 136/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Lò Văn P (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 25 tháng 10 năm 1995 tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: Bản P, xã B, huyện TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Lò Văn Ph (đã chết) và con bà Lò Thị P1 (sinh năm 1962); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 22/5/2024, tổ công tác Công an phường CS, thành phố SL làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 2, phường CS, thành phố SL, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang Lò Văn P, sinh năm 1995, đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa 01 gói giấy màu bạc, bên trong gói giấy bạc có chứa 04 viên nén màu hồng, P khai là ma túy Hồng phiến, cất giữ để sử dụng.

Ngày 23/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố SL tiến hành bóc mở niêm phong, tách bì, cân tịnh và xác định khối lượng vật chứng. Kết quả: 04 viên nén đồng dạng màu hồng trong gói giấy bạc có tổng khối lượng là 0,43 gam, lấy 02 viên có khối lượng 0,21 gam làm mẫu giám định ký hiệu L. Còn lại 02 viên có tổng khối lượng là 0,22 gam ký hiệu P niêm phong làm mẫu lưu kho.

Tại Kết luận giám định số: 1122/KL-KTHS ngày 23/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu L là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,21 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,43 gam; loại Methamphetamine, mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn P khai nhận: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 22/5/2024, sau khi đi ăn cơm uống rượu tại nhà người quen ở tổ 5, phường CS, thành phố SL, tỉnh Sơn La thì Lò Văn P đi đến khu vực tổ 2, phường CS, thành phố SL, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến khu vực Trường Cao đẳng SL thuộc tổ 2, phường CS, thành phố SL thì P thấy 01 người nam giới đướng ở vỉa hè gần đường, mặc quần áo màu đen, đeo khẩu trang, P đến và đặt vấn đề hỏi mua ma túy thì người nam giới đó tự giới thiệu mình tên là Hoàng Văn M, cư trú tại: Xã C, huyện MS, tỉnh Sơn La. P hỏi mua được của người này 01 gói ma túy Hồng phiến với giá 400.000đ. Sau khi mua được ma túy, P mở ra kiểm tra và gói số ma túy lại như ban đầu rồi cất vào túi quần bên phải, phía sau đang mặc trên người và đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi P đang đi vào 01 ngõ dân sinh thuộc tổ 2, phường CS, thành phố SL thì bị Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Thực hiện điều tra xác minh đối với nam thanh niên tên Hoàng Văn M bán trái phép chất ma túy cho Lò Văn P, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra, rà soát, xác minh nhưng tại xã C, huyện MS, tỉnh Sơn La không có người nào tên là Hoàng Văn Mạnh như lời khai của Lò Văn P.

Tại bản cáo trạng số: 256/CT-VKSTP ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Lò Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL giữ quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lò Văn P từ 16 (mười sáu) đến 20 (hai mươi) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy màu trắng, 01 mảnh giấy bạc và 0,22 (không phẩy hai mươi hai) gam Methamphetamine ký hiệu P.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến gì đối đáp với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố SL, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 22/5/2024, Lò Văn P đã có hành vi cất giữ trái phép 0,43 gam Methamphetamine, hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng: Lời khai nhận tội của bị cáo; biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 23 giờ 00 phút ngày 22/5/2024 tại tổ 2, phường CS, thành phố SL, tỉnh Sơn La đối với Lò Văn P cùng vật chứng thu giữ là 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 01 gói giấy bạc, bên trong gói giấy bạc có chứa 04 viên nén màu hồng, P khai là ma túy Hồng phiến, cất giữ để sử dụng; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 1122/KL-KTHS ngày 23/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của ông Đồng Trọng S, sinh năm 1958, trú tại: Tổ 3, phường CS, thành phố SL, tỉnh Sơn La, là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang.

Từ các căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015.

[4] Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo Lò Văn P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 0,43 gam, loại Methamphetamine, đã vi phạm vào tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của việc tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng do nghiện ma túy, bị cáo đã coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước, vẫn cố tình phạm tội. Hành vi cất giấu, cất giữ trái phép 0,43 gam Methamphetamine của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về kiểm soát và quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết bị cáo P phạm tội và đề nghị phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bản thân bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2024 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

[9] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua ma túy của của một người nam giới tên là Hoàng Văn M, địa chỉ tại xã, huyện MS, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo, cơ quan chức năng đã tiến hành điều tra xác minh, nhưng không thu thập được tài liệu chứng cứ gì, do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự toàn bộ đối với số ma túy bị thu giữ.

[10] Vật chứng của vụ án: Đối với 0,22 (không phẩy hai mươi hai) gam Methamphetamine ký hiệu P hiện đang lưu kho vật chứng, là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở và 01 mảnh giấy màu trắng, 01 mảnh giấy bạc là vật chứng không có giá trị sử dụng, cần tịch thu và tiêu hủy.

[11] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án. Căn cứ theo quy định của pháp luật, miễn tiền án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Lò Văn P 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 23/5/2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở với 01 (một) mảnh giấy màu trắng, 01 (một) mảnh giấy bạc và 0,22 (không phẩy hai mươi hai) gam Methamphetamine ký hiệu P (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 084900 của Công an thành phố SL).

    (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/8/2024 giữa Công an thành phố SL và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố SL, tỉnh Sơn La).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/8/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thành phố SL;
  • - Công an thành phố SL;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố SL;
  • - Bị cáo;
  • - THAHS;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lò Thị Mai Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SL, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 138/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SL, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger