Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 138/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29 - 5 - 2024

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích

Ông Khuông Văn Thông

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên.


Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/02/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/5/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982 (xin vắng mặt)

HKTT: Số nhà F, ngõ A, đường L, tổ dân phố C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Địa chỉ ở nước ngoài: Số nhà B, đường V, Làng H, thị trấn P, huyện C, thành phố Đ, Đài Loan.

- Người đại diện nhận văn bản tố tụng: Chị Chu Thị P, sinh năm 1980; Địa chỉ: thôn K, xã Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: Anh Hà Văn T, sinh năm 1978 (xin vắng mặt)

Nơi thường trú: Số nhà F, ngõ A, đường L, tổ dân phố C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.


NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hà Văn T kết hôn với nhau ngày 30/9/2004 trên cơ sở tình cảm đôi bên và đã đăng ký kết hôn tại UBND phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và đã có 02 con chung. Năm 2016 chị đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, sau đó vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn với nhau, không hòa thuận. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, không cùng chung chí hướng. Vừa qua chị về Việt Nam thăm gia đình ăn tết nhưng giữa chị và anh T đã không còn hòa hợp với nhau. Vợ chồng không chung sống cùng nhau và đã sống ly thân với nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Văn T.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Hà Văn T1, sinh ngày 24/6/2005 và Hà Mạnh D, sinh ngày 27/9/2009. Hiện nay chị đang làm việc tại Đài Loan, cháu T1 đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết, còn cháu D ở cùng anh T. Do điều kiện chị phải đi làm ở xa, không có điều kiện chăm con nên khi ly hôn đề nghị Tòa án giao cháu D cho anh T nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con hai bên sẽ tự thỏa thuận nên không đề nghị giải quyết.

- Về tài sản: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về công nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Hà Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau năm 2004 và đã đăng ký kết hôn tại UBND phường X, thành phố B. Chị H đã đi xuất khẩu lao động nhiều năm, vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn. Vợ chồng đến nay đã không còn tình cảm với nhau nữa. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Hà Văn T1, sinh ngày 24/6/2005 và Hà Mạnh D, sinh ngày 27/9/2009. Cháu T1 hiện đã trưởng thành. Hiện nay cháu D đang ở với anh, khi ly hôn anh đề nghị Tòa án giao cháu D cho anh tiếp tục nuôi dưỡng. Về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này.

- Về công nợ: không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Tòa án đã làm việc với cháu Hà Mạnh D cháu có ý kiến muốn được tiếp tục ở với bố Hà Văn T.

* Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị H và anh Hà Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của các đương sự và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Xử:

Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hà Văn T.

Về con chung: Giao cháu Hà Mạnh D cho anh Hà Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị H là người Việt Nam, hiện đang sống và làm việc tại Đài Loan có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con chung đối với anh Hà Văn T. Căn cứ Công văn số 7175 ngày 10/4/2024 của Cục Q - Bộ C xác định chị Nguyễn Thị H đã xuất cảnh ngày 27/02/2024. Bị đơn anh Hà Văn T là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do nguyên đơn chị Nguyễn Thị H đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: chị H và anh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị H và anh Hà Văn T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 30/9/2004 tại UBND phường X, thành phố B nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh T. Xem xét đơn khởi kiện của chị H, HĐXX thấy: Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm không hòa hợp được. Bản thân chị H hiện nay đang lao động tại nước ngoài, vợ chồng xa cách địa lý; anh T cũng xác định vợ chồng không còn tình cảm và đồng ý ly hôn. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh T.

[4]. Về nuôi con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là cháu Hà Văn T1, sinh ngày 24/6/2005 và Hà Mạnh D, sinh ngày 27/9/2009. Cháu T1 hiện đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Đối với cháu D đang do anh T nuôi dưỡng và cháu có nguyện vọng được ở với bố. Chị H hiện đang làm việc ở nước ngoài nên không có thời gian, điều kiện để nuôi dưỡng cháu D và đồng ý giao cháu D cho anh T nuôi dưỡng, anh T cũng đề nghị giao cháu D cho anh nuôi dưỡng. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của cháu Dương c áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Hà Mạnh D.

Về cấp dưỡng nuôi con chung anh T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5]. Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;


QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Hà Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Hà Mạnh D, sinh ngày 27/9/2009 cho anh Hà Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001078 ngày 26/02/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

4. Về quyền kháng cáo:

- Chị Nguyễn Thị H hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

- Anh Hà Văn T cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.


Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND phường Xương Giang, TP Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Hoàng Thị Hải Hường

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 138/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồng ly hôn Thắng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger