Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 138/2024/HS-ST

Ngày 26-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Trần Minh Thêu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Thanh Nhiến

Bà Phạm Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tuấn Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 09/5/1991 tại Hòa Bình. Nơi cư trú: tổ F, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn K, sinh năm 1963, con bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1961; Bị cáo chưa có vợ con. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 02 anh em.

Tiền án: Không

Tiền sự: 02 tiền sự:

- Ngày 17/01/2024 Công an thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10 với số tiền 6.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích. (Chưa nộp phạt).

- Ngày 17/6/2024 Công an thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 128 với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. (Chưa nộp phạt).

Nhân thân:

- Ngày 07/5/2008 Công an phường P, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính 50.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. (Đã thi hành xong).

- Ngày 06/8/2008 Công an phường C, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính 75.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. (Đã thi hành xong).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/5/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Tài A, (tên gọi khác: không), sinh ngày 07/12/1987 tại Hòa Bình.

Nơi cư trú: Tổ F, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1963; con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1961; Bị cáo chưa có vợ con; Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có hai anh em.

Tiền án: Không

Tiền sự: 01 tiền sự.

- Ngày 17/6/2024 Công an thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 129 với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. (Chưa nộp phạt).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/5/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

3. Phùng Văn A1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 08/10/1991 tại B - Hà Nội.

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phùng Thanh H2 (đã chết), con bà Phùng Thị T, sinh năm 1964; Có vợ là: Bùi Kim O (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Năm 2015 Công an huyện B, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích. (Đã thi hành xong).

- Năm 2017 Công an huyện B, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Xuân N, sinh năm 1990; Nơi cư trú: SN A, tổ A, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1963; Nơi cư trú: Tổ F, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong tháng 5 năm 2024 Nguyễn Văn H, sinh năm 1991 đã rủ Nguyễn Tài A, sinh năm 1987 (anh trai H), cùng trú tại: tổ F, phường T, thành phố H và Phùng Văn A1, sinh năm 1991, trú tại: thôn T, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Xuân N tại địa chỉ: SN E, tổ G, phường T, thành phố H. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 01/5/2024, Nguyễn Văn H sử dụng xe mô tô BKS 28H1-646.87 đi từ nhà mang theo một đoạn sắt xoắn, màu đen dài khoảng 36cm đến cửa hàng của anh Nguyễn Xuân N với mục đích để trộm cắp tài sản. H dừng xe, quan sát xung quanh không có người nên đã dùng thanh sắt phá khóa cửa chính phía trước nha, ngắt cầu dao điện. H vào bên trong nhà quan sát không có ai để ý, H lấy trộm gồm: 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo màu đen cùng dây nguồn; 01 máy in Canon màu trắng để trên bàn làm việc; 53 chiếc công tắc điện thông minh để trong tủ kính phòng làm việc; 04 bộ đế Inox cổng âm sàn; 01 bộ khóa cửa cảm biến sinh trắc học và 01 cây nước nóng lạnh ở phòng làm việc.

H đi lên cầu thang gác xép tầng hai lấy 04 bộ ray cửa tự động gấp lại cho tất cả vào bao tải dứa có sẵn ở gần đó rồi mang ra ngoài vỉa hè. Sau đó H quay lại đi xuống tầng hầm dùng tay mở khóa dây (cài nhưng không khóa) ở cửa ra vào giữa nhà. H đi vào bên trong lấy tài sản gồm: 12 chiếc gậy đánh gold; 01 chiếc quạt cây để ở phòng ngủ; 01 cánh cửa sắt ở lối vào bếp, H tháo chiếc Camera lắp ở hành lang tầng hầm vứt xuống vườn phía sau nhà. H mang toàn bộ tài sản lấy được để lên xe mô tô rồi điều khiển xe đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của Phùng Văn A1; địa chỉ: tổ E, phường T, thành phố H; lúc này khoảng 06 giờ sáng, H gặp A1 và nói đây là tài sản gia đình không sử dụng nữa cần bán, nên hai bên đã thỏa thuận A1 mua lại số tài sản đó với giá 2.250.000 đồng.

Riêng chiếc máy tính xách tay H khai mang xuống hà N1 bán cho một người thanh niên không quen biết tại khu vực phố T được 100.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 21 giờ ngày 03/5/2024 Nguyễn Văn H rủ anh trai là Nguyễn Tài A đi trộm cắp tài sản, Tài A đồng ý. H đi xe mô tô BKS 28H1-646.87 và Tài A mượn xe mô tô BKS 28H1-634-78 của bố là ông Nguyễn Văn K. Hai người đi xe gặp Phùng Văn A1, H rủ A1 đi trộm cắp tài sản tại cửa hàng của anh Nguyễn Xuân N, A1 đồng ý.

Đến khoảng 23 giờ 50 phút H chở A1 bằng xe mô tô 28H1-646.87, Tài A đi xe mô tô BKS 28H1-634-78 đến cửa hàng của anh Nguyễn Xuân N, khi đến nơi hai người dựng xe sát vỉa hè đường H. A1 đứng trên đường cảnh giới, H cùng Tài A đi xuống tầng hầm dùng tay mở khóa dây ở cửa giữa vào nhà, đi vào bên trong thấy chiếc mắy giặt nhãn hiệu GL Inverter DierctDriver ở bếp, H dùng tay tháo vòi nước và rút dây điện đấu nói với máy giặt. HTài A cùng khiêng chiếc máy giặt lên đường, đặt lên xe máy của Tài A, sau đó H chở A1, còn Tài A chở chiếc máy giặt về chỗ ở của A1 cất giấu. H bảo An là “ở nhà chờ, HTài A quay lại lấy chiếc tủ lạnh nhãn hiệu Panasonic”.

H điều khiển xe mô tô BKS 28H1-646.87, Tài A điều khiển xe mô tô BKS 28H1-634-78 quay lại cửa hàng của anh N, đi xuống tầng hầm mở cửa vào trong phòng bếp dùng tay rút dây điện, cùng Tài A khiêng chiếc tủ lạnh lên đường, đặt lên xe của Tài A rồi Tài A chở chiếc tủ lạnh về nơi ở của A1 cất giấu, còn H điều khiển xe của mình đi cùng Tài A.

Lần thứ ba: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 05/4/2024, Nguyễn Văn H sử dụng xe mô tô BKS 28H1-646.87 đi từ nhà ở tổ F phường T mang theo cà lê 13 màu trắng và kìm sắt, cán nhựa màu đỏ đến cửa hàng của anh N với mục đích trộm cắp tài sản. H dừng xe trên đường sát vỉa hè, cầm theo cà lê, kìm đi xuống tầng hầm, dùng tay mở cửa ra vào ở giữa nhà, đi vào trong phòng bếp, dùng cà lê 13 tháo cục nóng điều hòa nhãn hiệu Media để xuống nền, dùng kìm cắt dây điện và ống đồng, tháo cục lạnh điều hỏa bỏ ra phòng ngủ bên ngoài. H mang cục nóng điều hòa chở về nhà bà Đỗ Thị C, sinh năm 1960, địa chỉ: tổ E, phường T, thành phố H và nói là gửi bà C hôm sau đến lấy.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 91/KL-HĐĐGTS ngày 13/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: 01 máy giặt nhãn hiệu GL Inverter DierctDrive 7kg, hãng sản xuất LG ELECTRONICS, xuất xứ Thái Lan, mã sản phẩn F120NMPW, công suất 2.100W, màu trắng, cửa ngang đã qua sử dụng, trị giá tài sản: 3.500.000 đồng. 01 tủ lạnh nhãn hiệu Panasonic, Model N2. NR-BJ175SNVN màu ghi, dung tích 152L đã qua sử dụng, trị giá tài sản: 2.000.000 đồng. 01 cục nóng điều hòa, nhãn hiệu Media. Model MSMA3-10CNR 19000BTU/h, sản xuất năm 2020 (loại 1 chiều) đã qua sử dụng, giá trị tài sản 1.500.000 đồng. 01 máy in nhãn hiệu Canon 2900 màu trắng đã qua sử dụng, giá trị tài sản: 1.500.000 đồng. 01 bộ khóa cảm biến sinh trắc học, nhãn hiệu Demax SL819 Gold chưa qua sử dụng, giá trị tài sản: 15.000.000 đồng. 01 cánh cửa sắt, kích thước 0,9 x 2,1m đã qua sử dụng giá trị tài sản: 700.000 đồng.

Bộ gậy đánh gold 12 chiếc nhãn hiệu Talor Made đã qua sử dụng; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Lennovo Core I5 đã qua sử dung; 01 máy lọc nước nóng lạnh nhãn hiệu Kangkaro đã qua sử dụng; 04 chiếc cổng âm sàn bằng innox chưa qua sử dụng; 53 công tắc điện thông minh nhãn hiệu Hunoic Luxury chưa qua sử dụng; 01 Camera Ezviz đã qua sử dụng; 01 quạt cây nhãn hiệu điện cơ Thống Nhất đã qua sử dụng; 04 bộ ray cửa tự động (02m/1 bộ) chưa qua sử dụng. Những tài sản này không xác định được giá trị tài sản.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 104/KL-HĐĐGTS ngày 28/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: 01 cây nước nóng lạnh nhãn hiệu SUNHOUSE màu trắng Model: SHD9629, dung tích 11 (nóng) 3L (lạnh) xuất xứ Trung Quốc đã qua sử dụng, trị giá tài sản: 1.200.000 đồng; 04 bộ đế Inox cổng âm sàn, nhãn hiệu DEA chưa qua sử dụng, trị giá tài sản: 16.000.000 đồng; 01 chiếc quạt cây nhãn hiệu Cơ Điện Hà Nội đã qua sử dụng, trị giá tài sản: 150.000 đồng; 13 chiếc công tắc điện nhãn hiệu HUNONOC Luxury Switch, mã sản phẩm: HNLUX03 (03 nút) chưa qua sử dụng, trị giá tài sản: 11.000.000 đồng; 04 chiếc công tắc điện nhãn hiệu HUNONIC Touch Switch mã sản phẩn:HNLUX02 (02 nút) chưa qua sử dụng, trị giá tài sản: 30.000.000 đồng; 12 gậy đánh gold, nhãn hiệu Talor Made không xác định được giá trị tài sản vì không tham khảo được giá trên thị trường.

Tổng giá trị tài sản là: 82.550.000 đồng. Trong đó: Lần thứ nhất là: 75.550.000 đồng; Lần thứ hai: 5.550.000 đồng; lần thứ ba: 1.500.000 đồng.

Đối với 03 bộ khóa cửa vân tay nhãn hiệu Makoto 250 chưa qua sử dụng. Cơ quan điều tra yêu cầu Hội đồng định gia qua hồ sơ tài liệu nhưng bị cáo không thừa nhận đã trộm cắp và sau khi bị hại kiểm tra lại xác nhận không bị mất trộm nên không đề cập trong vụ án.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ:

- 01 máy in Canon 2900; 53 bộ công tắc điện thông minh; 04 bộ đế Inox âm sàn DEA; 01 khóa cửa cảm biến sinh trắc học Demax SL819 Gold; 01 cây lọc nước nóng lạnh SUNHOUSE; 12 chiếc gậy đánh gold Talor Made; 01 chiếc quạt cây; 01 chiếc máy giặt GL 7kg; 01 chiếc tủ lạnh Panasonic 152L; 01 cục nóng điều hòa Media.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveRSX FI, BKS: 28H1-634.78; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 28H1-646.87.

- 01 cánh cửa sắt; 04 thanh ray cửa tự động; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Lennovo Core I5; 01 Camera E chưa thu giữ được trong quá trình điều tra. Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm, khi tìm thấy sẽ xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự:

- 01 cánh cửa sắt; 04 thanh ray cửa tự động; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Lennovo Core I5; 01 Camera E chưa thu giữ được, do giá trị tài sản thấp anh Nguyễn Xuân N không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường giá trị những tài sản này. Anh N đã nhận lại những tài sản thu giữ trong quá trình điều tra và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Đối với số tiền 2.250.000 đồng Phùng Văn A1 đã trả tiền mua tài sản của bị cáo H, hiện Phùng Văn A1 không yêu cầu H phải trả lại số tiền này.

Cáo trạng số 121/CT-VKSLS ngày 27/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo: Nguyễn Văn H3 về tội: Trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo: Nguyễn Tài A, Phùng Văn A1 về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự:

  • - Áp dụng c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 30 đến 36 tháng tù;
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Tài A từ 09 đến 12 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Phùng Văn A1 từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: đề nghị không xem xét. Truy thu số tiền thu lời bất chính của bị cáo Nguyễn Văn H.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để có cơ hội sửa chữa sai lầm.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và quá trình thẩm tra tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, của Điều tra viên công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Tài A, Phùng Văn A1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng; phù hợp với kết luận định giá và toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng ba ngày 01/5/2024; 03/5/2024; 05/5/2024 lợi dụng sự sơ hở của anh Nguyễn Xuân N trong việc quản lý tài sản, Nguyễn Văn H đã 03 lần lén lút thực hiện hành vi trộm cắp nhiều tài sản có giá trị, trong đó có một lần thực hiện cùng Nguyễn Tài APhùng Văn A1. Tổng giá trị tài sản H 03 lần trộm cắp là 82.550.000 đồng. Nguyễn Tài APhùng Văn A1 cùng tham gia trộm cắp với H một lần vào ngày 03/5/2024 với giá trị tài sản là 5.550.000 đồng.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H về tội Trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Tài A, Phùng Văn A1 về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của các bị cáo:

Các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Tài A, Phùng Văn A1 là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức, song vì thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của bản thân các bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo thực hiện hành vi không có sự cấu kết chặt chẽ, không có việc phân công nhiệm vụ rõ ràng cụ thể, không có sự phân chia vai trò, việc thực hiện hành vi là bột phát, không có sự bàn bạc, thống nhất từ trước. Hành vi của các bị cáo là đồng phạm giản đơn.

Do đó cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi từng các bị cáo thực hiện để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Đối với bị cáo Nguyễn Văn H:

Bị cáo là người chủ động chuẩn bị công cụ, phương tiện đến địa điểm là cửa hàng của anh Nguyễn Xuân N với mục đích để trộm cắp tài sản. Một mình bị cáo đã hai lần lén lút đột nhập vào nhà của anh N lấy đi nhiều đồ đạc: máy tính xách tay, công tắc điện, bộ khóa cửa....., bị cáo mang bán cho Phùng Văn A1, bị cáo nói với A1 là đồ không dùng nữa; thỏa thuận giá mua bán là 2.250.000 đồng, còn chiếc máy tính xách tay bị cáo mang xuống Hà Nội bán cho một người không quen biết được 100.000 đồng. Lần thứ hai bị cáo rủ Nguyễn Tài APhùng Văn A1 đến nhà anh N lấy trộm: 01 máy giặt và 01 tủ lạnh mang về cất giấu ở nhà A1. Lần thứ 3 bị cáo một mình đến nhà anh N lấy trộm cục nóng điều hòa mang về gửi ở nhà bà Đỗ Thị C. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 82.550.000 đồng.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội có một tình tiết tăng nặng TNHS: phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, và tình tiết định khung tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng; ông ngoại là liệt sỹ, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội; Để có tiền chi tiêu bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Xuân N và còn rủ Nguyễn Tài APhùng Văn A1 cùng thực hiện. Giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là lớn. Cả ba lần thực hiện hành vi bị cáo đều là người khởi xướng. Bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần về hành vi trộm cắp tài sản, hiện bị cáo còn 02 tiền sự chưa được xóa về hành vi này nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm như đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4.2] Đối với bị cáo Nguyễn Tài A:

Bị cáo là anh trai của Nguyễn Văn H, sau khi được H rủ đi trộm cắp tài sản bị cáo đã đồng ý và lấy xe máy của bố mình là ông Nguyễn Văn K để đi cùng H. Bị cáo cùng H đến nhà anh N lấy tài sản, cùng H khiêng máy giặt, tủ lạnh từ nhà anh N lên xe và trực tiếp chở đồ trộm cắp được về cất giấu tại nhà Phùng Văn A1. Tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị 5.550.000 đồng.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đồng phạm với bị cáo H trong việc trộm cắp tài sản; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng; ông ngoại là liệt sỹ, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét áp dụng cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; Bị cáo biết em trai mình thực hiện hành vi trộm cắp không những không khuyên can mà trái lại bị cáo còn tích cực cùng thực hiện hành vi phạm tội, bản thân bị cáo có 01 tiền sự chưa được xóa về hành vi trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo vẫn cố ý cùng bị cáo H tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của bản thân thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm như đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4.3] Đối với bị cáo Phùng Văn A1:

Bị cáo là người tham gia trộm cắp tài sản với bị cáo HTài A. Khi đến nhà anh N, HTài A đột nhập vào nhà để lấy tài sản, bị cáo là người đứng ở trên đường cảnh giới, sau khi HTài A lấy được tài sản cả nhóm đã mang về nhà bị cáo cất giấu, bị cáo trực tiếp đi cùng để lấy trộm chiếc máy giặt, còn chiếc tủ lạnh HTài A trực tiếp đi lấy và bảo bị cáo ở nhà chờ. Giá trị tài sản bị cáo cùng HTài A trộm cắp là 5.550.000 đồng.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về nhân thân bị cáo: Năm 2015 bị cáo bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích, bị cáo đã chấp hành xong.

- Năm 2017 Công an huyện B, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích. Căn cứ khoản 1 Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: “Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt VPHC mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính”. Trong trường hợp này bị cáo Phùng Văn A1 được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu là thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức, vai trò không đáng kể trong vụ án này; sau khi phạm tội đã ra đầu thú, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, i khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét áp dụng cho bị cáo.

Xét bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng; có hoàn cảnh gia đình khó khăn hiện đang nuôi con nhỏ; có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, luôn chấp hành tốt các chính sách tại địa phương nơi cư trú. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý cũng cải tạo được bị cáo, việc cho bị cáo được hưởng án treo không trái với quy định tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước và pháp luật.

[6] Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với hành vi Phùng Văn A1 mua lại các tài sản H mang đến bán, H nói là tài sản không dùng nữa. Bản thân A1 là người chuyên thu mua phế liệu, không biết tài sản đó do H trộm cắp mà có, nên không có căn cứ xử lý hành vi này đối với A1.

Đối với bà Đỗ Thị C, sinh năm 1960, trú tại: tổ E, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình là người đã cho H gửi 01 cục nóng điều hòa. Bà C không trao đổi mua bán, cũng không biết H trộm cắp mà có, sau đó bà C đã giao nộp tài sản. Nên không đề cập xử lý.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại anh Nguyễn Xuân N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường về các tài sản đang được cơ quan điều tra truy tìm cũng như bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với số tiền 2.250.000 đồng Phùng Văn A1 trả tiền mua tài sản cho H, A1 không yêu cầu H phải trả lại số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ:

- Đối với tài sản: 01 máy in Canon 2900; 53 bộ công tắc điện thông minh; 04 bộ đế Inox âm sàn DEA; 01 khóa cửa cảm biến sinh trắc học Demax SL819 Gold; 01 cây lọc nước nóng lạnh SUNHOUSE; 12 chiếc gậy đánh gold Talor Made; 01 chiếc quạt cây; 01 chiếc máy giặt GL 7kg; 01 chiếc tủ lạnh Panasonic 152L; 01 cục N3 đã trả lại bị hại Nguyễn Xuân N theo Quyết định xử lý vật chứng số 1137 ngày 23/5/2024 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố H nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

- Đối với: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveRSX FI, BKS: 28H1-634.78; đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn K theo Quyết định xử lý vật chứng số 1490 ngày 01/7/2024 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố H nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

- Đối với tài sản: 01 cánh cửa sắt; 04 thanh ray cửa tự động; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Lennovo Core I5; 01 Camera E chưa thu giữ được trong quá trình điều tra. Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm, khi tìm thấy sẽ xử lý theo quy định.

- Đối với số tiền 2.250.000 đồng bị cáo H bán tài sản trộm cắp cho Phùng Văn A1 và 100.000 đồng bị cáo bán chiếc máy tính cho người không quen biết ở Hà Nội là tiền thu lời bất chính của bị cáo H cần truy thu sung công quỹ Nhà nước.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, đen, bạc BKS 28H1-646.87 và 01 đăng ký xe. Đây là xe bị cáo đã dùng làm phương tiện phạm tội cần tịch thu, phát mại sung công quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 chiếc kìm sắt, 01 chiếc cale, 01 thanh sắt xoắn không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Tài A, Phùng Văn A1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Tài A, Phùng Văn A1 phạm tội: Trộm cắp tài sản.

1. Về trách nhiệm hình sự:

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn H.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/5/2024.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tài A 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/5/2024.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phùng Văn A1 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phùng Văn A1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Phùng Văn A1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại điều 56 của Bộ luật hình sự.

2. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

* Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước:

- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, đen, bạc BKS 28H1-646.87, số máy JA39E2518146; số khung RLHJA3921NY021889, xe đã qua sử dụng tạm giữ của Nguyễn Văn H. (Khi giao nhận xe không có gương chiếu haaij bên phải, xe có nhiều vết trầy xước, không kiểm tra tình trạng xe).

- 01 (Một) đăng ký xe mô tô số 28015223, BKS 28H1 646.87.

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (Một) chiếc kìm sắt, cán nhựa màu đỏ, đen đã qua sử dụng

- 01 (Một) chiếc cale 13, màu trắng đã qua sử dụng

- 01 (Một) thanh sắt xoắn, màu đen dài 36cm.

(Chi tiết vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 141/BB/24 ngày 12/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Hòa Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.)

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Tài A, Phùng Văn A1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - Sở tư pháp tỉnh HB;
  • - VKSND TPHB;
  • - CA TPHB;
  • - Chi cục THA TPHB;
  • - UBND xã Thái Hòa, Ba Vì, HN;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Thêu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 138/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H + ĐP 173
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger