Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2024/HS-ST

Ngày: 26 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Minh Hiền.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Bích Thuỷ và ông Võ Phi Hùng.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trương Bảo Long, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sơn, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 94/2024/TLST–HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Trí L, sinh ngày 02/8/1994, tại tỉnh Quảng Trị; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; nơi thường trú: Khu phố C, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; chỗ ở hiện nay: Số C đường Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trí L1, sinh năm 1964 và bà Trịnh Thị V, sinh năm 1969; vợ Ngô Kiều M, sinh năm 1996; có 01 con sinh năm 2020. Gia đình có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ nhất.

    • * Về nhân thân: Tháng 02/2013 tham gia nghĩa vụ quân sự tại Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Q đến tháng 7/2014 xuất ngũ trở về địa phương.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 09/11/2023, khởi tố chuyển tạm giam từ ngày 18/11/2023 cho đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

  2. Lê Văn Xuân T (Tên gọi khác: N), sinh ngày 06/10/1987, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; nơi thường trú và chỗ ở hiện tại: Số A đường A, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê K, sinh năm 1958 và bà Châu Thị M1, sinh năm 1959; vợ con chưa có. Gia đình có 07 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ ba.

    • * Về nhân thân:
      • - Ngày 07/4/2003, bị Công an thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định số: 2230).
      • - Ngày 21/4/2003, bị UBND thành phố H ra Quyết định đưa vào trường G, thời hạn 24 tháng (Quyết định số 03).
      • - Ngày 24/9/2010, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2 Điều 245 Bộ luật hình sự (bản án số 32/2010/HSST). Ngày 17/12/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm (bản án số 151/2010/HSPT).
      • - Ngày 19/5/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 08 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự (bản án số 93/2011/HSST). Tổng hợp hình phạt của cả 02 bản án là 10 năm 06 tháng tù. Ngày 26/4/2018 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương (Giấy chứng nhận số 205/GCN). Hiện đã thi hành xong các Quyết định của cả 02 bản án nêu trên.
      • - Ngày 06/01/2022, bị Công an phường P, thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” (Quyết định số 0068). Đã thi hành xong khoản nộp tiền phạt ngày 11/02/2022.

    Tiền án; tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 09/11/2023, khởi tố chuyển tạm giam từ ngày 18/11/2023 cho đến nay, tại trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

  3. Nguyễn Thị Phương L2, sinh ngày 20/7/2000, tại tỉnh Thanh Hóa; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Không; nơi thường trú: Khu phố E, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; chỗ ở hiện nay: Số H kiệt I đường H, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Quốc T1 (đã chết) và bà Võ Thị N1, sinh năm 1959; chồng không có, có 01 con sinh năm 2022. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

    Tiền án; tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt quả tang, sau đó khởi tố áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/11/2023 cho đến nay. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Anh Phạm Trương Anh T2, sinh năm 1995; địa chỉ: Số A đường P, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • - Chị Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 2003; địa chỉ: số E đường H, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Người làm chứng:

  • - Chị Huỳnh Thị T3, sinh năm 1976; địa chỉ: Số C đường P, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • - Anh Trần Ngọc L3, sinh năm 1978; địa chỉ: TDP N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • - Anh Lê Cao N2, sinh năm 1996; địa chỉ: TDP E, khu V, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • - Ông Liên Q, sinh năm 1960; địa chỉ: Số A đường H, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trí L, Lê Văn Xuân T và Nguyễn Thị Phương L2 là bạn bè quen biết nhau ngoài xã hội.

Vào khoảng 02 giờ 00 phút sáng ngày 09/11/2023, Nguyễn Trí L và Nguyễn Thị Phương L2 đang đi chơi với nhau. Do muốn có ma túy để sử dụng nên Nguyễn Trí L rủ Nguyễn Thị Phương L2 đi xe Taxi về khách sạn H1 (số C P, phường V, thành phố H) thuê phòng để cùng nhau sử dụng ma túy, thì Nguyễn Thị Phương L2 đồng ý. Sau khi đến khách sạn H1, Nguyễn Trí L đi vào gặp nhân viên lễ tân thuê phòng và được nhân viên lễ tân bố trí phòng 507 và giao chìa khóa phòng cho Nguyễn Trí L. Lúc này, do điện thoại của Nguyễn Trí L hết pin nên mượn điện thoại của Nguyễn Thị Phương L2 để liên lạc nhờ người mua ma túy; thuê loa đèn nên Nguyễn Thị Phương L2 đồng ý cho mượn. Sau khi mượn được điện thoại, Nguyễn Trí L điện thoại cho bạn của mình là Lê Văn X Thịnh nhờ T mua 3.000.000 đồng ma túy dạng khay (Ketamine) và ma túy dạng kẹo (MDMA) đưa đến phòng 507 khách sạn H1 để cùng nhau sử dụng thì T đồng ý. Tiếp đến, Nguyễn Trí L điện thoại cho một người tên T4 (không rõ nhân thân, lai lịch) để thuê loa đèn phục vụ cho việc sử dụng ma túy thì người này đồng ý cho Nguyễn Trí L thuê với giá 500.000 đồng, đồng thời Nguyễn Trí L nói T4 mang đến khách sạn H1 để ở quầy lễ tân sẽ có người nhận. Sau đó, Nguyễn Trí L và Nguyễn Thị Phương L2 đi lên phòng 507 khách sạn H1 chờ T mua ma túy đem đến, chờ người đem loa đèn đến để sử dụng ma túy.

Lê Văn Xuân T sau khi nhận lời của Nguyễn Trí L nhờ mua ma túy, T sử dụng điện thoại liên lạc với một người tên D (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 01 gói ma túy khay và 02 viên ma túy kẹo với số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) thì người này đồng ý bán và hẹn gặp T tại đường N, phường T, thành phố H để giao dịch mua bán ma túy. Sau đó, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Exciter, biển kiểm soát 75B1-182.70 (xe do T mượn trước đó của anh Phạm Trương Anh T2) đi đến đường N như đã hẹn với người tên D. Tại đây, T đưa cho D số tiền 3.000.000 đồng thì người này chỉ chỗ để ma túy ở trên vỉa hè cho T tự lấy rồi đi về.

Sau khi mua được ma túy, T cất giấu trong người rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75B1-182.70 đi đến khách sạn H1. Đến nơi, T đi vào quầy lễ tân hỏi phòng 507 thì nhân viên lễ tân nói T cầm túi xách màu đen đưa lên phòng 507 cho anh Nguyễn Trí L nên T cầm túi xách (T biết bên trong có loa đèn) đi lên phòng 507 gặp Nguyễn Trí L và Nguyễn Thị Phương L2. Sau khi vào phòng, T để ma túy trên bàn. Sau đó T và Nguyễn Trí L cùng nhau bật loa, đèn lên rồi tự lấy ma túy kẹo bẻ ra rồi bỏ vào trong ly nước C để sử dụng. Một lúc sau, Nguyễn Trí L đưa cho Phương L2 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng; Phương L2 lấy ma túy dạng khay đổ ra trên tờ tiền rồi xào ma túy; Nguyễn Trí L sử dụng bật lửa ga hơ nóng ma túy khay rồi cả ba người dùng ống hút (được làm bằng giấy và đầu đót thuốc lá) cùng nhau sử dụng. Lúc này, vì do sử dụng ma túy dẫn đến khát nước, nên T đi ra ngoài mua nước rồi đưa về cho mọi người uống. Sau đó, Lê Văn X T nhờ Nguyễn Thị Phương L2 điện thoại cho Nguyễn Thị Kim O đến phòng 507 khách sạn H1 để phục vụ T trong việc sử dụng ma túy, thì Nguyễn Thị Kim O đồng ý. Đến khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, O đi đến khách sạn H1, khi O vừa mới mở cửa phòng 507 đi vào thì bị phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Trí L, Lê Văn Xuân T và Nguyễn Thị Phương L2 đang sử dụng ma túy, đồng thời tạm giữ các vật chứng liên quan.

* Vật chứng vụ án tạm giữ gồm:

  • 01 gói nilong viền đỏ có chứa các mảnh viên nén màu cam, 01 gói nilong viền đỏ bên trong gồm có 01 viên nén màu xám và 01 mảnh viên nén màu xám và 01 gói nilong viền xanh chứa tinh thể rắn màu trắng; chất tinh thể rắn màu trắng trên đĩa sứ được Cơ quan điều tra cho vào gói nilong viền đỏ. Đã được niêm phong theo quy định của pháp luật.
  • 01 đĩa sứ màu trắng (trên mặt đĩa sứ có chất bột, tinh thể rắn màu trắng đã được thu giữ nêu trên);
  • 01 ống hút hình trụ tròn được làm bằng đót thuốc lá và giấy;
  • 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng Ngân hàng N4 phát hành;
  • 01 thiết bị đèn chiếu sáng nhãn hiệu “Laser show system” màu đen có quai xách có dạng hình vuông;
  • 01 thiết bị đèn chiếu sáng nhãn hiệu “Laseraperture” màu đen, dạng hình cầu. Model: AC-6926 Made in China;
  • 01 loa âm thanh nhãn hiệu harman/Kardon, màu đen có quai xách và thiết bị cắm nguồn;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ mặt sau màu đen, số I: 353843247130889, bên trong có thẻ sim số 0775785777 (tạm giữ của Nguyễn Thị Phương L2 - điện thoại này Phương L2 cho Trí L mượn); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ mặt sau màu đen, số I: 354847092261714, bên trong có thẻ sim số 00358067222 (tạm giữ của Lê Văn Xuân T); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ mặt sau màu trắng, số I: 354844092696452 (tạm giữ của Lê Văn Xuân T); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ mặt sau màu đen, số I: 356472090157414, bên trong có 02 thẻ sim số 0905540938 và 0914671436 (tạm giữ của Nguyễn Trí L); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ mặt sau màu đồng, số I: 354381061047777, bên trong có thẻ sim số 0787782003 (tạm giữ của Nguyễn Thị Kim O);
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Exciter, biển kiểm soát 75B1-182.70, số khung: RLOE55P10CY181120, số máy: 55P1-181133.

* Tại bản kết luận giám định số 714/KL-KTHS ngày 13/11/2023, của phòng K1 Công an tỉnh T xác định:

  1. Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có tổng khối lượng là 1,7218g (một phẩy bảy hai một tám gam) là ma túy, loại Ketamine.
  2. 01 (một) viên nén và 01 (một) mảnh viên nén đều có màu xám gửi giám định (nêu tại mục 1.1.2, phần II) có tổng khối lượng là 0,7542g (không phẩy bảy năm bốn hai gam) là ma túy, loại MDMA.
  3. Các mảnh vụn viên nén có màu cam gửi giám định có khối lượng là 0,1429g (không phẩy một bốn hai chín gam) là ma túy, loại MDMA.
  4. Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,1167g (không phẩy một một sáu bảy gam) là ma túy, loại Ketamine.

Sau khi giám định, phòng K1 Công an tỉnh T đã hoàn lại đối tượng giám định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật, gồm:

  • - 1,6218g mẫu tinh thể rắn màu trắng.
  • - 0,6042g mẫu bột được nghiền từ viên và mảnh viên nén đều có màu xám.
  • - Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.

Tất cả được niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký của Giám định viên Trần N3, 02 (hai) chữ ký của Điều tra viên Trương Thanh M2, 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của phòng K1 Công an tỉnh T và dòng chữ “H mẫu vật vụ Nguyễn Trí L, Lê Văn Xuân T, Nguyễn Thị Phương L2, Nguyễn Thị Kim O, bắt ngày 09/11/2023”.

Không hoàn lại các mảnh vụn viên nén có màu cam và mẫu tinh thể rắn màu trắng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T vì đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T đã giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an thành phố H tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo thẩm quyền.

* Về xử lý vật chứng: Ngày 10/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định xử lý vật chứng số 347/QĐ trả lại xe mô tô trên cho anh Phạm Trương A T2.

Tại bản cáo trạng số 118/CT-VKSTPH ngày 21 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố các bị cáo Nguyễn Trí L, Lê Văn Xuân T và Nguyễn Thị Phương L2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • - Về hình phạt:
    • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Văn Xuân T từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù.
    • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Trí L từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.
    • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Phương L2 từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
  • - Về xử lý vật chứng:
    • + Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy đã qua giám định cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định và các dụng cụ phục vụ sử dụng trái phép chất ma tuý.
    • + Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng do Ngân hàng N4 phát hành; 01 thiết bị đèn chiếu sáng nhãn hiệu “Laser show system” màu đen có quai xách có dạng hình vuông; 01 thiết bị đèn chiếu sáng nhãn hiệu “Laseraperture” màu đen, dạng hình cầu; 01 loa âm thanh nhãn hiệu harman/ Kardon, màu đen có quai xách và thiết bị cắm nguồn; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ mặt sau màu đen, số Imei: 353843247130889; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei: 354847092261714, bên trong có thẻ sim số 00358067222;
    • + Trả lại cho Lê Văn X Thịnh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ mặt sau màu trắng, số I: 354844092696452;
    • + Trả lại cho Nguyễn Trí L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ mặt sau màu đen, số I: 356472090157414, bên trong có 02 thẻ sim số 0905540938 và 0914671436;
    • + Trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim O 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ mặt sau màu đồng, số I: 354381061047777
  • - Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Sau khi rủ Nguyễn Thị Phương L2 sử dụng ma tuý, khoảng 02 giờ 30 phút ngày 09/11/2023, Nguyễn Trí L thuê phòng 507 - khách sạn H1 (C P, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế), rồi bỏ tiền ra nhờ Lê Văn X Thịnh mua ma tuý đưa đến khách sạn để cùng nhau sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, trong lúc Nguyễn Trí L, Lê Văn Xuân T và Nguyễn Thị Phương L2 đang cùng nhau sử dụng ma túy thì bị phát hiện, bắt quả tang; số ma túy còn lại do cả nhóm chưa kịp sử dụng hết để trên bàn, gồm 1,8385g Ketamine và 0,8971g MDMA. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nên Nguyễn Trí L, Lê Văn Xuân T và Nguyễn Thị Phương L2 phải chịu hậu quả chung. Các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý “Đối với 02 người trở lên”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố Nguyễn Trí L, Lê Văn Xuân T và Nguyễn Thị Phương L2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[2] Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo phạm vào tội rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và góp phần làm phát sinh các vi phạm pháp luật khác.

Trong vụ án này, Nguyễn Trí L là người khởi xướng, chi trả tiền và nhờ Lê Văn Xuân T mua ma tuý để sử dụng, đồng thời L trực tiếp thuê phòng khách sạn nhằm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Lê Văn Xuân T là người trực tiếp mua ma túy đem đến khách sạn cho Nguyễn Trí L, T cũng là người nhờ Nguyễn Thị Phương L2 gọi Nguyễn Thị Kim O đến phục vụ việc sử dụng ma túy. Do đó, Nguyễn Trí L và Lê Văn X T có vai trò gần như ngang nhau, trong đó, Nguyễn Trí L là người khởi xướng và thực hành tích cực, Lê Văn Xuân T là người giúp sức và thực hành tích cực. Nguyễn Thị Phương L2 là người đã đưa điện thoại để Nguyễn Trí L gọi Lê Văn X T nhờ mua ma túy và thuê loa đèn, đồng thời L là người gọi Nguyễn Thị Kim O đến phục vụ việc sử dụng ma túy nên phải chịu trách nhiệm là đồng phạm giúp sức với vai trò thụ động, thứ yếu.

[3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Các bị cáo Nguyễn Trí L và Nguyễn Thị Phương L2 có nhân thân tốt; bị cáo Lê Văn X Thịnh được xác định không có tiền án, tiền sự nhưng năm 2010 bị kết án về tội “Gây rối trật tự công cộng”, năm 2011 bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích”; lần lượt các năm 2003 và 2022 bị xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” và “Đánh bạc”.

Tất cả các bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, nhận ra lỗi lầm của mình, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Phương L2, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đang mang thai 14 tuần, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Trí L, trong quá trình điều tra đã khai báo về hành vi mua bán trái phép ma tuý của đối tượng Lê Thúc Anh Q1 (đã bị khởi tố, bắt giam trong vụ án khác), giúp cơ quan điều tra nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án “mua bán trái phép chất ma tuý” liên quan đến Lê Thúc Anh Q1 nên Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, đúng với hướng dẫn tại mục 3, phần I của công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2021 của Toà án nhân dân tối cao nên cần chấp nhận. Vì vậy, Nguyễn Trí L được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, Nguyễn Trí L có thời gian phục vụ trong quân đội, bị cáo Nguyễn Thị Phương L2 có mẹ là bà Võ Thị N1 từng làm liên lạc bí mật trong kháng chiến chống Mỹ, có bố tham gia quân đội nên cả hai bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích trên, xét thấy cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa. Đối với Lê Văn Xuân T do có nhân thân xấu, chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên phải chịu hình phạt nghiêm khắc nhất. Đối với Nguyễn Trí L và Nguyễn Thị Phương L2 do có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 của Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, quy mô tổ chức không lớn nên việc áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Trí L và Nguyễn Thị Phương L2 dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật nên cần chấp nhận.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với số ma túy còn lại đã qua giám định là chất độc hại cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với 01 đĩa sứ màu trắng; 01 ống hút hình trụ tròn được làm bằng đót thuốc lá và giấy là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy;
  • - Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, do Ngân hàng N4 phát hành (được quấn thành dạng ống hình trụ tròn); 01 thiết bị đèn chiếu sáng nhãn hiệu “Laser show system" màu đen có quai xách có dạng hình vuông; 01 thiết bị đèn chiếu sáng nhãn hiệu “Laseraperture” màu đen, dạng hình cầu. Model: AC-6926 Made in China; 01 loa âm thanh nhãn hiệu harman/ Kardon, màu đen có quai xách và thiết bị cắm nguồn; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ mặt sau màu đen, số I: 353843247130889, bên trong có thẻ sim số 0775785777; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ mặt sau màu đen, số I: 354847092261714, bên trong có thẻ sim số 00358067222 là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp vào Ngân sách Nhà nước;
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ mặt sau màu trắng, số I: 354844092696452, bị cáo Lê Văn Xuân T không sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ mặt sau màu đen, số I: 356472090157414, bên trong có 02 thẻ sim số 0905540938 và 0914671436, bị cáo Nguyễn Trí L không sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo;
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ mặt sau màu đồng, số I: 354381061047777, bên trong có thẻ sim số 0787782003 chị Nguyễn Thị Kim O không sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim O.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật

[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi và các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố Nguyễn Trí L, Lê Văn Xuân T và Nguyễn Thị Phương L2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

      Xử phạt Lê Văn X Thịnh 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị tạm giữ 09/11/2023.

    2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự;

      Xử phạt Nguyễn Trí L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị tạm giữ 09/11/2023.

    3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự;

      Xử phạt Nguyễn Thị Phương L2 04 (bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy còn lại đã qua giám định được niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký của Giám định viên Trần N3, 02 chữ ký của Điều tra viên Trương Thanh M2, 02 dấu tròn màu đỏ của phòng K1 Công an tỉnh T và dòng chữ “H mẫu vật vụ Nguyễn Trí L, Lê Văn Xuân T, Nguyễn Thị Phương L2, Nguyễn Thị Kim O, bắt ngày 09/11/2023”; 01 đĩa sứ màu trắng; 01 ống hút hình trụ tròn được làm bằng đót thuốc lá và giấy.
    • - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, do Ngân hàng N4 phát hành (được quấn thành dạng ống hình trụ tròn); 01 (một) thiết bị đèn chiếu sáng nhãn hiệu “Laser show system” màu đen có quai xách có dạng hình vuông; 01 thiết bị đèn chiếu sáng nhãn hiệu “Laseraperture” màu đen, dạng hình cầu. Model: AC-6926 Made in China; 01 loa âm thanh nhãn hiệu harman/ Kardon, màu đen có quai xách và thiết bị cắm nguồn; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ mặt sau màu đen, số I: 353843247130889, bên trong có thẻ sim số 0775785777; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ mặt sau màu đen, số I: 354847092261714, bên trong có thẻ sim số 00358067222;
    • - Trả lại cho Lê Văn X Thịnh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ mặt sau màu trắng, số I: 354844092696452; trả lại cho Nguyễn Trí L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ mặt sau màu đen, số I: 356472090157414, bên trong có 02 thẻ sim số 0905540938 và 0914671436; trả lại cho Nguyễn Thị Kim O 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ mặt sau màu đồng, số I: 354381061047777, bên trong có thẻ sim số 0787782003.

    Vật chứng trên có đặc điểm được xác định theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/3/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế và theo giấy nộp tiền tại Ngân hàng TMCP N5 ngày 22/3/2024.

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

    Buộc các bị cáo Nguyễn Trí L, Lê Văn Xuân T và Nguyễn Thị Phương L2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

  5. Án sơ thẩm xét xử công khai báo cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Sở tư pháp tỉnh TT Huế;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh TT Huế;
  • - VKSND TP Huế;
  • - CA thành phố Huế;
  • - Chi cục THADS thành phố Huế;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Tôn Minh Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 138/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger