TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 138/2024/HS-ST Ngày: 25 - 7 -2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Giang |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Như Bình |
| Bà Ngô Thị Thu Trang |
- Thư ký phiên toà: Bà Mạc An Chi - Thư ký Toà án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Khắc Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Anh D, sinh năm 1987, tại Hà Nội; ĐKTT: Số xx LSB, phường VC, quận ĐĐ, thành phố HN; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đỗ D L và bà Vũ Thị Hải H; Chung sống như vợ chồng với chị Hoàng Tú L1; Có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 62 do Công an quận Tây Hồ lập ngày 27/02/2024 và lý lịch do địa phương cung cấp, bị cáo không có tiền án, tiền sự; Nhân thân có 01 tiền sự: Năm 2015, Công an phường Văn Chương đưa đi cai nghiện, thời gian 02 năm.
Bị cáo bị bắt từ ngày 21/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 19 giờ 00 ngày 21/02/2024, Đỗ Anh D lên mạng xã hội Telegram để tìm mua ma túy. D nhắn tin với một tài khoản Telegram (D không nhớ tên) hỏi mua 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền ma túy “đá”. Hai bên thỏa thuận giao nhận ma túy và thanh toán tiền tại khu vực ngõ 299 đường Thụy Khuê, phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Khi đến nơi, D gọi điện thoại cho người bán ma túy qua ứng dụng Telegram, người bán ma túy bảo D lấy ma túy “đá” ở khu vực cạnh xe chở rác gần ngõ 299 Thụy Khuê, rồi để lại 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) ở đấy. Theo chỉ dẫn của người bán ma túy, D đi đến khu vực cạnh thùng rác và lấy được 01 (một) túi nilong màu trắng kích thước khoảng (02 x 03)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, biết là ma túy “đá” nên D đã cất giấu vào trong túi quần phía trước, bên phải đang mặc và để số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) ở vị trí lấy ma túy. Sau đó, D đi bộ tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đi bộ đến trước nhà số 139 đường Đồng Cổ, phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội thì bị tổ công tác Công an phường Bưởi kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, D không xuất trình được giấy tờ và tự lấy từ trong túi quần bên phải, phía trước D đang mặc ra 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (02 x 03)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho Tổ công tác. Đồng thời, D tự khai nhận số tinh thể màu trắng là ma túy “đá”, D đang đi tìm chỗ để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong số ma túy và đưa D cùng tang vật về trụ sở Công an phường Bưởi để tiếp tục làm rõ.
Thu giữ của Đỗ Anh D:
- - 01 (một) túi nilong màu trắng kích thước khoảng (02 x 03) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra số Imei;
- - Số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại bản Kết luận giám định số 1605/KL -KTHS ngày 01/03/2024, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:
-Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,300 gam.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho D: D khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, đây là lần đầu tiên D mua ma túy của người này. Cơ quan CSĐT – Công an quận Tây Hồ đã tiến hành dẫn giải D, D xác định được vị trí mua ma túy tại khu vực cạnh xe chở rác đầu ngõ 299 đường Thụy Khuê, phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, nhưng không xác định được người bán ma túy cho D, nên Cơ quan CSĐT - Công an quận Tây Hồ không có căn cứ để tiếp tục làm rõ.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng và số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của Đỗ Anh D, D khai là tài sản do tự lao đông mà có.
Bản Cáo trạng số 94/CT-VKSTH ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Đỗ Anh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và giữ nguyên nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- - Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Anh D từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị,
- + Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong (Bên trong bao niêm phong là khối lượng ma túy còn lại sau giám định).
- + Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra số imei và chất lượng bên trong và số tiền 350.000 đồng.
- - Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng
- -Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận, nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình sai, vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận Tây Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]Về hành vi của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào hồi 20 giờ 30 phút ngày 21/02/2024, tại khu vực trước số nhà 139 đường Đồng Cổ, phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, Đỗ Anh D có hành vi cất giấu trái phép 0,3 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội, là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động, tăng nguy cơ lây nhiễm các căn bệnh HIV-AIDS.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Năm 2015, bị cáo đã bị cáo đã đi cai nghiện bắt cuộc. Như vậy, bị cáo đã được cơ quan có thẩm quyền giáo dục nhưng vẫn không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Điều đó thể hiện bị cáo coi thường pháp luật. Căn cứ vào khối lượng ma túy; Nhân thân của bị cáo; Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cần áp dụng một hình phạt tù nghiêm khắc trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của Đỗ Anh D và các thành phần trong biên bản đóng gói niêm phong ngày 21/02/2024, được đóng dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Tây Hồ (Bên trong bao niêm phong là khối lượng ma túy còn lại sau giám định).
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Đối với đối bán ma túy D: D không biết tên, tuổi, địa chỉ. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không có căn cứ làm rõ để xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh và hình phạt: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Đỗ Anh D 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của Đỗ Anh D và các thành phần trong biên bản đóng gói niêm phong ngày 21/02/2024, được đóng dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Tây Hồ (Bên trong bao niêm phong là khối lượng ma túy còn lại sau giám định).
- - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra số imei và chất lượng bên trong và số tiền 350.000 đồng.
(Vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tây Hồ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2024 và Lệnh thanh toán ngày 04/04/2024 tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam).
3.Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Đỗ Anh D phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự :
Án xử công khai sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Giang |
Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 138/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự sơ thẩm
