TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 138/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25-4-2024 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Văn Quỳnh |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Bùi Thị Hoa |
| Ông Mai Xuân Thường |
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa - Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 122/2024/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1987;
Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An;
Địa chỉ cư trú hiện tại: Số A, đường Xương Nam, thôn X, xã Đ, huyện V, Đài Loan;
Nơi làm việc: Công ty TNHH W, số G, Đ, đường rendewest, thị trấn M, huyện V, Đài Loan; vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1989;
Địa chỉ cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt (có chứng thực của Văn phòng K tại Đ), nguyên đơn anh Trần Văn T trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị T1 quen biết nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 05 tháng 12 năm 2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2021. Do có nhiều bất đồng về quan điểm sống dẫn đến vợ chồng có nhiều mâu thuẫn khó hòa giải. Đến tháng 9 năm 2023, vì điều kiện kinh tế khó khăn nên anh đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan. Từ đó, vợ chồng sinh sống hai nơi khác nhau và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không còn tiếng nói chung về nhiều vấn đề trong cuộc sống. Vì vậy, anh làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị T1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Ngọc Tường V, sinh năm 2015 và Trần Phúc H, sinh năm 2019. Hiện các con đang ở với chị T1 và được chị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, anh và chị T1 thỏa thuận để chị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh và chị T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Trần Văn T hiện đang cư trú và làm việc tại Đài Loan, không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh ủy quyền cho anh Trần Văn T2, sinh năm 1972; địa chỉ cư trú: Xóm B, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, tài liệu, tạm ứng án phí và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, anh đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt.
Theo bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị T1 trình bày:
Chị và anh Trần Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 05/12/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Đến năm 2019, vợ chồng chuyển về xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An sinh sống. Đến năm 2021, do có nhiều bất đồng về quan điểm sống dẫn đến vợ chồng có nhiều mâu thuẫn khó hòa giải. Đến tháng 9/2023, do điều kiện kinh tế khó khăn nên anh T đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan. Thời gian đầu, vợ chồng có liên lạc với nhau. Về sau, do cuộc sống xa cách nên chị và anh T thỉnh thoảng mới liên lạc với nhau và không còn tiếng nói chung về nhiều vấn đề trong cuộc sống. Hiện nay, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên anh T làm đơn ly hôn thì chị cũng đồng ý.
Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Trần Ngọc Tường V, sinh ngày 03/7/2015 và Trần Phúc H, sinh ngày 03/7/2019. Hiện các con đang ở cùng với chị và được chị chăm sóc, nuôi dưỡng. Do anh T đang làm việc ở Đài Loan, không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con nên chị và anh T thống nhất: Chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị T1 có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nhưng do bận công việc nên chị có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Về thẩm quyền giải quyết: Anh Trần Văn T đang cư trú tại Đài Loan đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị T1 có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
Về thủ tục hòa giải: Theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì anh Trần Văn T không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài.
Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Trần Văn T đang cư trú tại Đài Loan, không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh T ủy quyền cho anh Trần Văn T2, sinh năm 1972; địa chỉ cư trú: Xóm B, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An nộp đơn ly hôn, bản tự khai, tài liệu (có chứng thực của Văn phòng K tại Đ) cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị Nguyễn Thị T1 có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã nộp bản tự khai, tài liệu cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An nhưng do bận công việc nên chị T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Các đương sự phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về tài liệu và chứng cứ mà các bên đã nộp cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 05 tháng 12 năm 2014, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Đến năm 2019, vợ chồng chuyển về cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Đến năm 2021, do có nhiều bất đồng về quan điểm sống dẫn đến vợ chồng có nhiều mâu thuẫn khó hòa giải. Đến tháng 9/2023, vì điều kiện kinh tế khó khăn nên anh T đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan. Thời gian đầu, vợ chồng có liên lạc với nhau. Về sau, do cuộc sống xa cách nên chị T1 và anh T thỉnh thoảng mới liên lạc với nhau và không còn tiếng nói chung về nhiều vấn đề trong cuộc sống. Hiện tại, anh T và chị T1 đều nhận thấy: Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không còn nên anh T nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị T1. Xét thấy, hôn nhân giữa anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Trần Văn T yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam nên chấp nhận.
[3]. Về con chung: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 có 02 con chung. Nay ly hôn, anh T và chị T1 thỏa thuận: Chị T1 được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con Trần Ngọc Tường V, sinh ngày 03/7/2015 và Trần Phúc H, sinh ngày 03/7/2019 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: anh T và chị T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình nên Tòa ghi nhận.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[5]. Về án phí: Anh Trần Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Trần Văn T.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 được ly hôn.
- Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau:
Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 có 02 con chung;
Giao cho chị Nguyễn Thị T1 được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con Trần Ngọc Tường V, sinh ngày 03/7/2015 và Trần Phúc H, sinh ngày 03/7/2019 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T và chị T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Trần Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Anh Trần Văn T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh T đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012778 ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh Trần Văn T đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
- Về quyền kháng cáo: Anh Trần Văn T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị T1 có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự Việt Nam./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Văn Quỳnh |
Bản án số 138/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 138/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa T và T1
