Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:138/2023/HS - ST

Ngày 24/07/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Minh Cường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Văn Xuyên
2. Ông Nguyễn văn Vĩ

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tháp – Kiểm sát viên.

Ngày 24/07/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 21/06/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 06 năm 2024, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Duy Q; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1998 tại Hà Giang; Nơi cư trú: Số I T, Tòa M Đ, phường M, quận N, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Họ và tên cha: Phạm Duy H, sinh năm 1968; Họ tên mẹ: Phan Thị H1, sinh năm 1976; Theo danh bản, chỉ bản số 119 lập ngày 07/02/2024 tại Công an huyện S thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Hiện nay bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Người bị hại: Cháu Nguyễn Quang L, sinh ngày 10/8/2009: Nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội (chết ngày 04/02/2024).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982 (bố đẻ cháu L); Nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội.

Bà Đàm Thị M, sinh năm 1989 (mẹ đẻ cháu L); Nơi cư trú: Thôn Đ, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội.

3. Bị đơn dân sự: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Khu đô thị D, Y, quận H, thành phố Hà Nội.

4. Người bào chữa cho bị cáo Q: Luật sư Nguyễn Mạnh T2 – Văn phòng luật sư Tôn Nữ Thu H2 và cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 09h30' ngày 04/02/2024, Phạm Duy Q (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô hiệu Peugeot 3008 - BKS: 30H-914.05 tham gia giao thông trên đường tỉnh lộ 35 theo hướng Ủy ban nhân dân xã T đi Ủy ban nhân dân xã T, S. Khi đi đến địa phận thôn P, xã M, huyện S, Q phát hiện có 01 xe ô tô con không rõ biển kiểm soát đang đi phía trước cùng chiều nên Q bật tín hiệu đèn xi nhan trái và điều khiển xe ô tô đi sang phần đường ngược chiều để vượt. Khi xe ô tô vượt đến ngang phần thân xe ô tô con đi trước thì phần đầu ba đờ sốc phía trước bên trái xe ô tô do Q điều khiển đâm thẳng vào phần đầu xe máy điện (không có biển kiểm soát) do cháu Nguyễn Quang L điều khiển đi theo hướng ngược chiều, cháu L và xe máy điện đổ ngã xuống đường. Sau khi gây ra tai nạn, Q dừng xe xuống thì thấy cháu L bị chảy nhiều máu ở đầu nên đã cùng với một số người dân đưa cháu L đến Bệnh viện Đ1, Vĩnh Phúc để cấp cứu. Do thương tích quá nặng nên cháu L đã tử vong trên đường đưa đi cấp cứu, Q đến Công an huyện S trình báo toàn bộ nội dung vụ tai nạn.

Ngay sau khi xảy ra tai nạn, Cơ quan CSĐT - Công an huyện S tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở và xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Phạm Duy Q. Kết quả: Q không có nồng độ cồn và âm tính với các chất ma túy.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

  • Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường thẳng được thảm nhựa nhẵn phẳng rộng 06m, đường hai chiều, trên đường không có vạch lớn kẻ đường, bên phải đường chiều quốc lộ C hướng quốc lộ B, trước khi đến khu vực xảy ra tai nạn có biển báo hiệu hết hạn chế tốc độ tối đa, hết khu vực xảy ra vụ tai nạn có biển báo đường giao nhau cùng cấp, chiều quốc lộ B hướng quốc lộ C, sau khu vực xảy ra vụ tai nạn có biển báo tốc độ tối đa cho phép 50 km/h.
  • Lấy điểm mốc của vụ tai nạn là cột điện 471E1.16/79 ở bên phải đường theo chiều quốc lộ C hướng quốc lộ B. Lấy mép đường nhựa bên phải làm chuẩn theo chiều quốc lộ C hướng quốc lộ B. Lấy hướng quốc lộ C đi quốc lộ B làm hướng chuẩn để khám nghiệm:
    • - Vùng nhựa vỡ để lại ở lề đường đất bên phải theo hướng chuẩn có kích thước là (60 x 50) cm. T3 vùng vỡ đo vào mép đường chuẩn là 85 cm từ tâm vùng nhựa vỡ đo về hướng quốc lộ B có kích thước là 09 m là vị trí tâm vùng dung dịch màu hồng (nghi là máu).
    • - Vùng dung dịch màu hồng (nghi là máu) có kích thước là (110 x 50) cm ở sát mép đường chuẩn. T3 vùng dung dịch đo vào mép đường chuẩn có kích thước là 10 cm. Từ tâm vùng dung dịch màu hồng đo về hướng quốc lộ B có kích thước là 05m, là vị trí tâm trục bánh sau xe máy điện không có biển kiểm soát.
    • - Vết cày xe máy điện không có biển kiểm soát để lại trên mặt đường nhựa theo chiều đường quốc lộ 3 đi quốc lộ B có kích thước 275 cm, vết cày có dạng đường thẳng liền và có chiều từ quốc lộ C về quốc lộ B, từ bên trái sang bên phải đường theo hướng chuẩn. Đầu vết cày đo vào mép đường chuẩn có kích thước là 55 cm, cuối vết cày trùng với giá để chân sau bên trái xe máy điện không có biển kiểm soát.
    • - Vị trí xe máy điện không có biển kiểm soát để nghiêng trái sát mép đường chuẩn, đầu xe hướng quốc lộ B, đuôi xe hướng quốc lộ C, tâm trục bánh trước xe máy điện đo vào mép đường chuẩn có kích thước là 5 cm, tâm trục bánh sau đo vào có kích thước là 45 cm.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện:

  • - Khám nghiệm xe ô tô BKS: 30H - 914.05: Tại mặt ngoài kính chắn gió và mặt ngoài khung xe bên lái có dấu vết trượt xước, biến dạng, kích thước (60 x 35) cm, điểm thấp nhất cách đất 116 cm; Tại mặt ngoài bên trái nắp capo có dấu vết trượt miết có chiều từ trước về sau, kích thước (56 x 2) cm. Trên bề mặt dấu vết bám dính chất mùn màu nâu đen; Tại mặt ngoài má lốp bánh trước bên trái có dấu vết trượt miết, kích thước (40 x 6) cm; Tại mặt ngoài cánh cửa trước, sau bên trái có dấu vết trượt xước, mất sơn. Kích thước trên diện (160 x 10) cm, điểm thấp nhất cách đất 55 cm; Thiệt hại: Vỡ góc ba đờ sốc trước bên lái; Vỡ kính chắn gió trước; V gương chiếu hậu bên lái.
  • - Khám xe máy điện: Tại mặt ngoài mặt nạ có dấu vết trượt xướt, mất sơn, chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên, kích thước (32 x 23) cm, điểm thấp nhất cách đất 70 cm. Trên bề mặt dấu vết còn ám dính chất mùn màu đen dạng cao su và bột đất đá; Tại mặt ngoài ốp sườn bên trái có dấu vết trượt xước, mất sơn, kích thước (10 x 6) cm. Điểm thấp nhất cách đất 56 cm. Trên bề mặt dấu vết bám dính chất mùn màu trắng dạng sơn.

Tại bản kết luận giám định số 2405 ngày 23/4/2024 của V1, Bộ C kết luận:

  • - Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 30H-914.05 và xe máy điện màu đen không gắn biển số: Dấu vết trượt xước mất cao su màu đen, bám dính chất màu trắng ở mặt ngoài má lốp bánh trước bên trái phía trước xe ô tô biển số 30H-914.05, có chiều từ mặt lăn vào tâm trục (ảnh 6 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết trượt xước mất sơn màu trắng, bám dính chất màu đen ở mặt ngoài ốp nhựa phía trước đầu xe máy điện màu đen không gắn biển số (khi xe máy điện đang đổ nghiêng trái xuống đường). Dấu vết va chạm ở xe máy điện tại vị trí này có chiều từ trước về sau (ảnh 7 trong bản ảnh giám định); Các dấu vết còn lại ở xe ô tô biển số 30H-914.05 và xe máy điện màu đen không gắn biển số được ghi nhận trong biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông của Công an huyện S lập, hiện tại không thể hiện rõ đặc điểm nên không đủ yếu tố giám định so sánh; Không xác định được vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 30H-914.05 và xe máy điện màu đen không gắn biển số.
  • - Vị trí va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe ô tô biển số 30H-914.05 và xe máy điện màu đen không gắn biển số nằm ở phần đường bên phải (theo chiều từ Quốc lộ C đi Quốc lộ B) đường 35.

Kết quả khám nghiệm tử thi nạn nhân: Đầu – mặt: Sây sát, bầm tím, sưng nề vùng cằm, mặt trên diện (21 x 18) cm. Trên diện này có 02 vết rách da: Rách da khóe miệng, môi dưới bên phải kích thước (1,5x0,5) cm; Rách da vùng cằm kích thước (3 x 0,5) cm; Hai lỗ tai có máu khô; Hai lỗ mũi, miệng có dịch bọt hồng chảy ra; Dập rách niêm mạc môi trên kích thước (04 x 02) cm; Dập rách niêm mạc môi dưới kích thước (06 x 03) cm; Vỡ ở chân răng R, R, R 2.1, R 2.2; Sờ nẵn thấy lạo xạo xương hàm trên và xương hàm dưới; Sờ nẵn không rõ vỡ xương sọ; Cổ vững, ngực sờ nắn không rõ gãy xương; Sây sát, bầm tím da vùng cổ và xương đòn trái kích thước (07 x 10) cm; Sây sát bầm tím da ngực trên diện (22 x 9) cm; Bầm tím da hõm nách phải kích thước (04 x 25) cm; Tay phải: Biến dạng cổ tay; Sây sát, bầm tím da mặt trước trong cổ tay kích thước (4,5 x 4) cm; Tay trái: Sây sát da mặt trong 1/3 trên cẳng tay kích thước (02 x 1,5) cm: sờ nắn không thấy gãy xương; Khung chậu vững, bộ phận sinh dục ngoài bình thường; Chân phải: Không thấy sưng nề, bầm tím da, sờ nắn không thấy gãy xương; Chân trái: sây sát da mặt ngoài 1/3 trên cẳng chân kích thước (10 x 3) cm; Sờ nắn không thấy gãy xương.

Tại bản kết luận giám định tử thi số: 227/165 ngày 29/02/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y, kết luận: Các vết sây sát, bầm tím, rách da vùng mặt, cổ ngực, hai tay và chân trái do va chạm với vật tày và vật tày có cạnh gây nên. Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Quang L giám định không tìm thấy E; Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Quang L giám định không tìm thấy các chất ma túy. Nguyên nhân chết do không mổ tử thi nên không kết luận được.

Ngày 04/02/2024, Cơ quan CSĐT- Công an huyện S đã tạm giữ 01 xe ô tô hiệu Peugeot 3008 - BKS 30H – 91405 và 01 chiếc xe máy điện màu đen không gắn biển số. Đối với chiếc xe ô tô hiệu Peugeot 3008 - BKS 30H - 91405 quá trình điều tra xác địn là của bà Nguyễn Thị T1 (là chị dâu họ bị cáo Q) cho Q mượn để làm phương tiện đi lại. Ngày 06/5/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện S đã trả lại chiếc xe trên cho chị T1. Đối với chiếc xe máy điện màu đen không gắn biển số: Ngày 06/05/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Văn T (bố đẻ của nạn nhân).

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Duy Q cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Văn T (bố đẻ nạn nhân Nguyễn Quang L) số ti ền là 470.000.000 đồng; ông T có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị can và không có yêu cầu đề nghị gì khác. Bà Đàm Thị M (mẹ đẻ nạn nhân Nguyễn Quang L) yêu cầu anh Nguyễn Văn T thanh toán, trả cho chị M số tiền 200.000.000 đồng từ số tiền 470.000.000 đồng bị cáo Q và gia đình bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 91/CT-VKS ngày 28/05/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố bị cáo Phạm Duy Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:

"1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người; ......”.

Tại phiên toà: Bị cáo Phạm Duy Q đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Chị Đàm Thị M không yêu cầu anh T phải trả chị số tiền 200.000.000 đồng.

Người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo Phạm Duy Q; xác định vụ án có lỗi hỗn hợp của người bị hại do đó đề nghị Hội đồng xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s Khoản 1 Điều 51 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo Q hưởng hình phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Duy Q theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng Đ a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Duy Q từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 30 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án.
  • - Về phần dân sự: Không đặt ra giải quyết.
  • - Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí HSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện S, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra vụ án nên có căn cứ xác định: Khoảng 09h30' ngày 04/02/2024, Phạm Duy Q (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô hiệu Peugeot 3008 – BKS: 30H - 91405 tham gia giao thông đi trên đường C theo hướng từ UBND xã T đi UBND xã T. Khi đi đến địa phận thôn P xã M, huyện S, thành phố Hà Nội, do Q điều khiển xe ô tô đi lấn sang phần đường ngược chiều để vượt chiếc xe ô tô con đi phía trước cùng chiều dẫn đến phần đầu ba đờ sốc phía trước bên trái của xe ô tô do Q điều khiển đã đâm vào phần đầu chiếc xe máy điện do cháu Nguyễn Quang L điều khiển theo hướng ngược chiều. Hậu quả: cháu Nguyễn Quang L tử vong.

Nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông do lỗi của Phạm Duy Q điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đã không chấp hành đúng luật giao thông đường bộ, vượt xe phía trước không đảm bảo an toàn - vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ; cháu Nguyễn Quang L tại thời điểm xảy ra tai nạn chưa đủ 16 tuổi, điều khiển xe máy điện (không đội mũ bảo hiểm) - vi phạm khoản 1 Điều 60 Luật giao thông đường bộ.

Hành vi của bị cáo Phạm Duy Q đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng: Không.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục hậu quả, bồi thường cho gia đình bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Duy Q là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Xét thấy: Bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 51 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; có chỗ ở và việc làm ổn định nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo - giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, phường nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

[5] Về phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 470.000.000 đồng; tại phiên tòa, chị Đàm Thị M không yêu cầu anh T phải trả chị số tiền 200.000.000 đồng, nay các bên không còn yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; bị đơn dân sự đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Duy Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Áp dụng Đa Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao,

Xử phạt bị cáo Phạm Duy Q 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Duy Q cho Ủy ban nhân dân phường M, quận N, thành phố Hà Nội: Giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của Bản án.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

3. Áp dụng Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Phạm Duy Q phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại đều có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn đân sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản tống đạt án hợp lệ về phần có liên quan.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Sóc Sơn;
  • - Công an huyện Sóc Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Ngô Minh Cường

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2023/HS - ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 138/2023/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Duy Quang phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger