Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 138/2024/HS-ST

Ngày 23 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trinh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch; Ông Đinh Xuân Dậu.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 107/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 101/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/HSST-QĐ ngày 06/5/2024 đối với:

- Bị cáo: Đào Văn H, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1990 tại Hải Dương; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Duy T (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Bị xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo theo bản án số 40/2012/HS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2012 của Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa;

- Bị hại: Anh Lê Quốc T1, sinh năm 2001 (đã chết);

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lê Quốc N1 (cha ruột – đã chết) và bà Phan Thị Kim H1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ 1, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang (mẹ ruột); vắng mặt tại phiên tòa;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty TNHH S; địa chỉ: T đất số 2006, tờ bản đồ 38, khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương;
  2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Yao H2; Chức vụ - Giám đốc;

    Địa chỉ liên hệ: Thửa đất số 2006, tờ bản đồ 38, khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt tại phiên tòa;

  3. Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1969; nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Đào Văn H (có giấy phép lái xe theo quy định) là người lái xe thuê cho Công ty TNHH S (sau đây gọi tắt là công ty S) địa chỉ tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vào khoảng 19 giờ, ngày 10/10/2023, H được công ty M1 T2 giao điều khiển xe ô tô tải biển số 62G-000.04 đi vận chuyển hàng, đi cùng với H còn có anh Hoàng Văn L là phụ xe. H điều khiển xe xuất phát từ phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày H điều khiển xe đến kho chứa hàng của công ty S tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai để nhận hàng (vỏ nhựa của mặt hàng đồ điện tử), sau khi vận chuyển xong hàng lên thùng xe thì khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe chở hàng đi giao tại Công ty T4 khu công nghiệp D, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Khi H điều khiển xe ra khỏi cổng kho hàng thì tiếp tục di chuyển ra đường 20 thuộc ấp H, xã H, huyện T. Lúc này đoạn đường không có đèn đường, H bật đèn ưu tiên để xin chuyển hướng sang đường từ phía bên trái sang phía bên phải theo hướng xã Lộ 25 đi ra hướng quốc lộ A. Khi H điều khiển xe đang đi ra, đầu xe gần đến vạch sơn phân chiều đường thì H phát hiện hướng Quốc lộ A có xe mô tô 68G1-709.79 do anh Lê Quốc T1 (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển đang đi đến. Lúc này Hoàng đ thắng dừng xe lại, khi còn cách đầu xe khoảng 20 mét thì anh T1 thắng xe để giảm tốc độ làm xe và người ngã nghiêng về phía bên trái ngã xuống đường, sau đó xe mô tô và anh T1 va chạm vào khung cản bằng sắt bảo vệ bình dầu ở hông phía bên trái xe ô tô, sau đó anh T1 và xe mô tô lọt vào gầm thùng xe ô tô. Hậu quả của vụ tai nạn làm anh T1 bị tử vong tại chỗ.

2. Khám nghiệm hiện trường:

Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và xác định hiện trường còn nguyên vẹn. Hiện trường xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, mặt đường nhựa, tầm nhìn bị hạn chế. Đoạn đường rộng 6,0m được chia thành hai phần đường xe chạy ngược chiều nhau, mỗi phần đường rộng 3,0m được phân biệt bằng vạch kẻ sơn nét đứt màu vàng.

- Chọn mép đường bên phải hướng Quốc lộ A đi xã L, huyện T làm mép đường chuẩn.

- Chọn trụ điện số 7AR 65/2008 hướng xã L, Thống Nhất đi Quốc lộ A làm điểm mốc.

  1. = 20,5m vết phanh xe mô tô số (3)
  2. = 9,0m vết cày xe mô tô số (3)
  3. Xe mô tô biển số: 68G1-709.79
  4. Vị trí nạn nhân
  5. Vị trí xe ô tô biển số: 62G-000.04
  6. = 0,4m x 0,2m vết bể vỡ

Số (1) là vị trí vết phanh của xe mô tô số (3), vết phanh có chiều dài 20,5m hướng từ Quốc lộ A đi xã L, huyện T. Điểm đầu vết phanh cách mép đường chuẩn là 1,7m, điểm cuối vết phanh cách mép đường chuẩn là 1,8m.

Số (2) là vị trí vết cày xe mô tô số (3) vết cày có chiều dài là 9,0m hướng từ Quốc lộ A đi xã L huyện T. Điểm đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 1,6m, điểm cuối vết cày nằm ở gác chân phía trước bên phải xe mô tô số (3).

Số (3) là vị trí xe mô tô biển số 68G1-709.79 sau vụ tai nạn giao thông đầu xe hướng vào Công ty TNHH S, đuôi xe hướng về mép đường bên trái.

Hình chiếu tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn là 0,6m.

Hình chiếu tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 0,3m.

Số (4) là vị trí nạn nhân sau vụ tai nạn giao thông đầu nạn nhân hướng về mép đường bên trái, chân nạn nhân hướng về Công ty TNHH S, khoảng cách từ đỉnh đầu nạn nhân cách mép đường chuẩn là 0,7m, khoảng cách trung điểm giữa hai chân cách mép đường chuẩn là 0,5m.

Số (5) là vị trí xe ô tô biển số: 62G-000.04 sau vụ tai nạn giao thông đầu xe hướng về Quốc lộ A, đuôi xe hướng về Công ty TNHH S.

Hình chiếu tâm trục bánh trước, bên trái cách mép đường chuẩn là 2,1m.

Hình chiếu tâm trục bánh sau bên trái cách mép đường chuẩn là 3,2m.

Số (6) là vị trí các mảnh nhựa vỡ sau vụ tai nạn giao thông, vết bể vỡ không rõ hình thù, cụm đuôi biển số 68G1-709.79 có kích thước chiều dài, chiều rộng lần lượt là 0,4m x 0,2m. T3 vị trí các mảnh vỡ cách mép đường chuẩn là 0,5m.

Khoảng cách từ tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô số (5) đến trụ điện số 7AR 65/2008 là 9,0m.

Khoảng cách từ tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô số (5) đến tâm dấu vết bể vỡ số (6) là 16,0m, khoảng cách từ đỉnh đầu nạn nhân số (4) đến tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô số (5) là 2,8m (thể hiện tại các bút lục 07-13).

2.2. Tại Bản Kết luận giám định số 2486/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

  • Bên trái xe ô tô biển số 62G-000.04 (dấu vết biến dạng nắp nhựa chụp bu lông vành bánh trước; dấu vết trượt, dính chất màu trắng tại đầu bu lông trục bánh trước; dấu vết trượt xước, khuyết kim loại tại mặt ngoài vành bánh trước và biến dạng vòi bơm; dấu vết trượt cao su tại má ngoài lốp trước; dấu vết trượt xước, nứt vỡ cạnh sau vè chắn bùn trước; dấu vết trượt xước, mất bụi, tróc sơn mất tem dán màu trắng, màu đỏ và biến dạng thanh cản hông) có cùng chiều từ trái qua phải; phù hợp va chạm với bên trái xe mô tô biển số 68G1-709.79 (dấu vết trượt xước, nứt gãy, biến dạng và khuyết kim loại tại các chi tiết: vành bánh trước dính chất màu đỏ, đùm bánh trước, giảm sóc 2 bên, vè chắn bùn, mặt nạ, ốp nhựa đầu xe, cụm trục cổ lái, cụm đồng hồ điều khiển, cạnh dưới két nước, còi xe, cổ ống xả, cạnh dưới lốc máy, cạnh trái lốc máy trái, cần số, chụp lốc máy, khung gác chân trước, dĩa sau, ốp sườn trái) có cùng chiều từ trước ra sau, từ trái qua phải.
  • Dấu vết trượt xước, nứt gãy, mài mòn tại các chi tiết bên phải: Tay cầm lái, ốp nhựa đầu xe, yếm chắn gió, ống xả, bàn đạp thắng, khung gác chân trước, ốp sườn, ống xả, ốp nhựa đuôi cùng thanh nâng của xe mô tô biển số 68G1-709.79 có chiều từ phải qua trái; phù hợp va chạm mặt đường khi xe ngã.
  • Căn cứ vào dấu vết, vật chứng và hồ sơ vụ việc gửi giám định:
  • + Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 62G-000.04 và xe mô biển số 68G1-709.79 chiếu xuống mặt đường là vị trí lốp trước bên trái của xe ô tô biển số 62G-000.04. Khi xe ô tô biển số 62G-000.04 đang dừng và xe mô tô biển số 68G1-709.79 đã ngã.
  • + Tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn xe mô tô biển số 68G1-709.79 lưu thông hướng Quốc lộ1 đi xã L 25 và chuyển động theo hướng từ bên trái qua bên phải xe ô tô biển số 62G-000.04.
  • + Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển số 68G1-709.79 ngay trước khi xảy ra tai nạn” (thể hiện tại các bút lục số 58-68).

Trên cơ sở kết quả khám nghiệm hiện trường đã xác định được nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là do Đào Văn H điều khiển xe ô tô biển số 62G-000.04 chuyển hướng từ phía bên trái sang phía bên phải theo hướng xã L 25 đi Quốc lộ A không đảm bảo an toàn gây ra tai nạn và hậu quả như trên.

3. Giám định pháp y:

3.1 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trưng cầu giám định nguyên nhân tử vong của anh Lê Quốc T1. Tại bản kết luận giám định tử thi số Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 464/KLGĐTT-TTPYĐN ngày 26/10/2023 của Trung Tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận nguyên nhân tử vong của anh Lê Quốc T1 do: “Đa chấn thương”.

  • Chấn thương sọ não gây vỡ sọ trán phức tạp trán có nhiều mảnh sọ rời, rách màng cứng, dập não thoát tổ chức não ra ngoài qua vết nứt sọ.
  • Kết hợp chấn thương gây trật khớp khuỷu trái, gãy 1/3 dưới 02 xương cẳng tay trái, gãy 1/3 giữa cánh tay phải, rách da phức tạp đùi trái, lộ cơ dập nát, gãy 1/3 dưới đùi trái

3.2 Kết luận khác: Nồng độ cồn và các chất ma túy trong máu: Có tìm thấy E với hàm lượng 116,92 mg/100ml. Không tìm thấy M và các chất ma túy thường gặp” (thể hiện tại bút lục số 36-51).

4. Vật chứng:

  • 01 xe mô tô biển số 68G1-709.79;
  • 01 xe ô tô tải biển số 62G-000.04;
  • 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Đào Văn H;
  • 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Lê Quốc T1;

353 thùng hàng linh kiện đồ điện tử.

5. Về bồi thường dân sự:

Bị cáo Đào Văn H và Công ty TNHH S đã hỗ trợ mai táng cho gia đình bị hại số tiền 125.000.000 đồng, hỗ trợ bà Nguyễn Thị Kim C tiền sửa chữa xe mô tô biển số 68G1-709.79 số tiền 20.000.000 đồng. Gia đình bị hại và bà C đã nhận tiền, đồng thời đã làm đơn bãi nại cam kết không thắc mắc khiếu nại về phần dân sự của vụ án.

6. Cáo trạng và trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

6.1. Truy tố: Tại Cáo trạng số: 113/CT-VKS-TB ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị cáo Đào Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

6.2. Trình bày của kiểm sát viên tại phiên tòa: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị:

  • Tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Đào Văn H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Đào Văn H Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Lê Quốc T1, lưu hồ sơ vụ án.
  • Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Người đại diện hợp pháp của bị hại bà Phan Thị Kim H1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim C đã cung cấp đầy đủ lời khai tại Cơ quan điều tra và đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH S đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về tội danh:

Đào Văn H có giấy phép lái xe theo quy định, là người lái xe thuê cho Công ty TNHH S. Ngày 10/10/2023, H điều khiển xe ô tô tải biển số 62G-000.04 đi vận chuyển hàng, xuất phát từ phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi điều khiển xe ra khỏi cổng kho hàng của Công ty T4, huyện T, tỉnh Đồng Nai và di chuyển ra đường B thuộc ấp H, xã H, huyện T, H đèn ưu tiên để xin chuyển hướng sang đường từ phía bên trái sang phía bên phải theo hướng xã Lộ 25 đi ra hướng quốc lộ A nhưng không đảm bảo an toàn nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô của anh T1; làm xe mô tô và anh T1 va chạm vào khung cản bằng sắt bảo vệ bình dầu ở hông phía bên trái xe ô tô, lọt vào gầm thùng xe ô tô và tử vong tại chỗ.

Qua xem xét bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác thể hiện, do không giảm tốc độ đến mức an toàn và thiếu quan sát, cho xe chuyển hướng khi không không đủ điều kiện đảm bảo an toàn để xảy ra tai nạn, làm anh Lê Quốc T1 tử vong là vi phạm khoản 1, 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Cáo trạng truy tố là có căn cứ, đủ cơ sở kết luận bị cáo Đào Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về trách nhiệm hình sự:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã bồi thường thiệt hại và được người đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn “bãi nại”; thuộc các trường hợp được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

3.3.Về hình phạt:

Hành vi của bị cáo Đào Văn H là nguy hiểm cho xã hội. Hiện nay, vấn đề tai nạn giao thông gây chết người là vấn nạn của xã hội; trong đó, chủ yếu xuất phát từ lỗi chủ quan của người tham gia giao thông; Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và bị xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo theo vào năm 2012 nhưng không lấy đó làm bài học, cẩn thận hơn khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông mà lại tiếp tục phạm tội cùng loại. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, thời điểm xảy ra tai nạn, bị hại anh Lê Quốc T1 tham gia giao thông mà trong máu có nồng độ cồn 116,92mg/100ml; là hành vi bị nghiêm cấm theo Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ. Đây cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến tai nạn. Do đó, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Đào Văn Hoàng Đ;
  • Lưu hồ sơ vụ án 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Lê Quốc T1;
  • Đối với xe mô tô biển số 68G1-709.79 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Kim C nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho bà C là phù hợp;
  • Đối với xe ô tô tải biển số 62G-000.04 do Công ty TNHH S thuê của Công ty TNHH S1 để kinh doanh, vận chuyển hàng hóa. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho Công ty TNHH S là phù hợp;
  • Đối với 353 thùng hàng linh kiện đồ điện tử là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho Công ty TNHH S là phù hợp.

[5] Về dân sự:

Các bên đã tự thỏa thuận và giải quyết xong toàn bộ vấn đề bồi thường và không có yêu cầu gì khác; do đó, không xem xét.

[6] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với các nhận định nêu trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
    • Tuyên bố bị cáo Đào Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
    • Xử phạt bị cáo Đào Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị áp giải thi hành án phạt tù;
  2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
    • Trả lại cho bị cáo Đào Văn H 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Đào Văn H;
    • Lưu hồ sơ vụ án 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Lê Quốc T1;
  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đào Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • Bị cáo;
  • Đại diện bị hại;
  • Người liên quan;
  • VKSND huyện;
  • VKSND tỉnh;
  • Công an huyện;
  • Chi cục THADS huyện;
  • UBND cấp xã nơi b/c cư trú;
  • Sở Tư pháp;
  • TAND tỉnh;
  • Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Thùy Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 138/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): - Tuyên bố bị cáo Đào Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - Xử phạt bị cáo Đào Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị áp giải thi hành án phạt tù;
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger