|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G TỈNH BẠC LIÊU ---------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 138/2024/HNGĐ-ST
Ngày 29/11/2024
Về việc tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Liệt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Cao Thị Mỹ Phượng
- Ông Nguyễn Thành Nhạn
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Luân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã G.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Mộng Đẹp - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 499/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QĐXX-ST ngày 23 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1978 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
Bị đơn: Anh Giang Văn S, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Bùi Thị T và anh Giang Văn S chung sống với nhau năm 2000, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu ngày 27/12/2006 theo quy định của pháp luật, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện.
Nguyên nhân ly hôn theo chị Bùi Thị T trình bày do chồng hành hạ, đánh đập, nhưng không gây thương tích, không có đi bệnh viện điều trị, chồng nhắn tin hâm dọa khủng bố tinh thần. Trong cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, chị về nhà cha mẹ ruột từ năm 2020 cho đến nay, kể từ đó thì vợ chồng sống ly thân, khi về nhà mẹ ruột cho đến nay thì không về thăm nhà, chồng có xuống nhà kêu chị về nhưng không có thiện chí. Trước đây cũng vài năm chị có gửi đơn xin ly hôn, nhưng sau đó đã rút đơn lại, nay chị yêu cầu ly hôn anh Giang Văn S.
Theo anh Giang Văn S trình bày: Nguyên nhân vợ xin ly hôn do vợ đi nhậu anh có la rầy thì xảy ra mâu thuẫn, anh có tát vợ mấy bạt tay thì vợ bỏ về nhà cha mẹ ruột sống từ năm 2020 cho đến nay, kể từ đó thì vợ chồng sống ly thân, khi vợ về nhà cha mẹ ruột cho đến nay không về thăm nhà, anh có xuống nhà vợ 3 lần để năng nỉ vợ về nhưng không nói chuyện được với vợ lần nào. Trước đây cũng vài năm vợ có đưa đơn xin ly hôn, nhưng sau đó hòa giải thì vợ rút đơn, nay không biết lý do nào vợ lại làm đơn xin ly hôn tiếp, anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung của vợ chồng: Có 02 con tên Giang Vũ Đ, sinh năm 2000 và Giang Hồng M, sinh năm 2002, hai con đã thành niên, không đặt ra xem xét việc nuôi con và cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và đề nghị:
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Bùi Thị Tuyết ly H anh Giang Văn S.
Về con chung: Giang Vũ Đ, sinh năm 2000 và Giang Hồng M, sinh năm 2002, hai con đã thành niên, không đặt ra xem xét việc nuôi con và cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Bùi Thị T và anh Giang Văn S không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai.
Anh Giang Văn S được triệu tập tham dự phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Giang Văn S.
[2] Chị Bùi Thị T và anh Giang Văn S chung sống vào năm 2000, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện.
Nguyên nhân ly hôn do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cự cải và xích mích dẫn đến mâu thuẫn ngày càng nhiều, cả hai người không giúp đỡ nhau để cùng tiến bộ, mỗi người sống cho riêng mình, không ai quan tâm đến ai là vi phạm Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Chị Bùi Thị T yêu cầu ly hôn, anh Giang Văn S không đồng ý ly hôn. Xét thấy, chị T đã sống ly thân với anh S từ năm 2020, từ đó đến nay hai người không liên hệ với nhau để bàn bạc, trao đổi về cuộc sống vợ chồng. Căn cứ vào Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, có căn cứ cho thấy hôn nhân của chị T và anh S lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Bùi Thị T yêu cầu ly hôn là phù hợp, căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hônvà Giaxử cho chị Bùi Thị T được ly hôn anh Giang Văn S.
[3] Về con chung của vợ chồng: Giang Vũ Đ, sinh năm 2000 và Giang Hồng M, sinh năm 2002, hai con đã thành niên, các đương sự không yêu cầu việc nuôi con và cấp dưỡng cho con nên không xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Bùi Thị T và anh Giang Văn S không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH, chị Bùi Thị Tuyết C 300.000 đồng.
Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị T, cho chị Bùi Thị T được ly hôn anh Giang Văn S.
[2] Về con chung: Giang Vũ Đ, sinh năm 2000 và Giang Hồng M, sinh năm 2002, hai con đã thành niên, các đương sự không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét việc nuôi con và cấp dưỡng cho con.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Bùi Thị T và anh Giang Văn S không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng, chị Bùi Thị T đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0009143 ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G được chuyển thu án phí.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tất Liệt |
Bản án số 138/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 138/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyết - Sơn
