|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 138/2024/HS-PT Ngày: 15/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thúy Hằng;
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Diệp
Ông Trần Tuấn Vũ
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 131/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Xuân Đ, do có kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Bích T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Đối với bị cáo:
Bùi Xuân Đ, sinh ngày 14/4/1992; nơi sinh: tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú hiện nay: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Bùi Xuân T1 (sống) và bà Trần Thị H (sống); vợ Nguyễn Thị Xuân T2 (sống chung không đăng ký kết hôn); con: có 01 người sinh năm 2022; tiền án; tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2016 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Bắt giữ người trái pháp luật” bị Tòa án quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù, bị cáo đã chấp hành xong (đã xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/02/2024, thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh ngày 30/5/2024, bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1988, đia chỉ: Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 7/2022, chị Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1988, ngụ: khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, có nhu cầu vay tiền nên lên mạng G tìm người cho vay và quen biết Bùi Xuân Đ. Ngày 15/7/2022, chị T được Đ giới thiệu cho Thi Quốc T3, sinh năm 1987, ngụ số C N, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, nhận thế chấp quyền sử dụng đất do chị T đứng tên để vay tiền. Ông T3 cho chị T vay số tiền 500.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay 12 tháng (từ ngày 15/7/2022 đến 15/7/2023), nhưng nhờ ông Bùi Quang Q, sinh năm 1975, nơi cư trú Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên nhận uỷ quyền đối với quyền sử dụng đất chị T thế chấp. Chị T nhận được 462.000.000 đồng và ký hợp đồng uỷ quyền toàn phần cho ông Q đối với thửa đất số 503, tờ bản đồ số 14, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA669305, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS10119, địa chỉ khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh do chị T đứng tên.
Sau đó, do tiếp tục cần vay tiền nên chị T trực tiếp vay tiền của Đ nhiều lần, cụ thể:
- - Lần thứ nhất: Ngày 22/9/2022, Đ cho chị T vay số tiền 250.000.000 đồng, thời hạn vay 30 ngày, từ ngày 22/9/2022 đến ngày 21/10/2022, thu lãi trước 30 ngày là 37.500.000 đồng, tương đương lãi suất 0,5%/ngày, 182,5%/năm. Đ thu lợi bất chính số tiền 33.390.000 đồng. Đại thông qua tài khoản của Nguyễn Hồng T4, sinh năm 1992, ngụ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và Phan Thanh P, sinh năm 1996, ngụ: Thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, chuyển khoản cho chị T tổng số tiền 212.500.000 đồng.
- Đến ngày 27/9/2022, chị T thông qua Đ tiếp tục vay tiền của ông T3 thêm 500.000.000 đồng lãi suất 02%/tháng, thời hạn vay là 12 tháng, tính từ ngày 15/7/2022. Tổng số tiền chị T nợ ông T3 là 1.000.000.000 đồng. Nhận được tiền vay của ông T3, chị T trả cho Đ tiền vay gốc 250.000.000 đồng.
- - Lần thứ hai: Ngày 06/10/2022, Đ cho chị T vay số tiền 150.000.000 đồng, thời hạn vay 20 ngày, từ ngày 06/10/2022 đến ngày 25/10/2022, thu lãi trước 20 ngày là 20.000.000 đồng, tương đương lãi suất 0,667%/ngày, 243,455%/năm. Đ thu lợi bất chính số tiền 18.356.000 đồng. Đại thông qua số tài khoản của Phan Thanh P chuyển khoản cho chị T 129.000.000 đồng. Do Đ chuyển khoản thiếu 1.000.000 đồng nên ngày 25/10/2022 chị T đã chuyển khoản trả cho Đại số tiền vay gốc 149.000.000 đồng vào tài khoản của Nguyễn Thị Xuân T2, sinh năm 1997, ngụ: thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông.
- - Lần thứ ba: Ngày 15/10/2022, Đ cho chị T vay 200.000.000 đồng, thời hạn vay 15 ngày, từ ngày 15/10/2022 đến ngày 30/10/2022, thu lãi trước 15 ngày là 40.00.000 đồng, tương đương lãi suất 1,333%/ngày, 486,545%/năm. Đại thông qua số tài khoản của Nguyễn Hồng T4 chuyển khoản cho chị T với số tiền 160.000.000 đồng. Đ thu lợi bất chính 38.356.000 đồng.
- Đến ngày 01/11/2022, do không có tiền trả cho Đ, chị T hỏi vay thêm thời hạn vay 07 ngày, từ ngày 01/11/2022 đến ngày 07/11/2022. Đại đồng ý và thu lãi trước 07 ngày là 14.000.000 đồng, tương đương lãi suất 1%/ngày, là 365%/năm. Chị T chuyển 14.000.000 đồng vào số tài khoản của Nguyễn Hồng T4. Đ thu lợi bất chính 13.232.800 đồng.
- Ngày 08/11/2022, chị T không có tiền trả nên tiếp tục hỏi vay thêm thời hạn vay 10 ngày, từ ngày 08/11/2022 đến ngày 17/11/2022. Đại đồng ý và thu lãi trước 10 ngày là 20.000.000 đồng, tương đương lãi suất 1%/ngày, là 365%/năm. Chị T chuyển tiền lãi 20.000.000 đồng vào số tài khoản của Nguyễn Hồng T4. Đ thu lợi bất chính 18.904.000 đồng.
- Đến ngày 17/11/2022, chị T trả cho Đ tiền vay gốc 200.000.000 đồng, chuyển khoản vào số tài khoản Nguyễn Thị Xuân T2. Tổng số tiền Đ thu lợi bất chính trong lần cho vay này là 70.492.000 đồng.
- - Lần thứ tư: Ngày 28/10/2022, Đ cho chị T vay 200.000.000 đồng, thời hạn vay 20 ngày, từ ngày 28/10/2022 đến ngày 17/11/2022, thu lãi trước 20 ngày là 30.00.000 đồng, tương đương lãi suất 0,750%/ngày, 273,750%/năm. Đ thu lợi bất chính 27.808.000 đồng. Đại thông qua số tài khoản của Phan Thanh P chuyển khoản cho chị T 170.000.000 đồng. Đến ngày 17/11/2022, chị T trả cho Đ tiền vay gốc 200.000.000 đồng, chuyển khoản vào số tài khoản Nguyễn Thị Xuân T2.
- - Lần thứ năm: Ngày 17/11/2022, Đ cho chị T vay số tiền 600.000.000 đồng, thời hạn vay 10 ngày, từ ngày 17/11/2022 đến ngày 26/11/2022, thu lãi trước 10 ngày là 60.000.000 đồng, tương đương lãi suất 1%/ngày, 365%/năm. Đại thông qua số tài khoản của Nguyễn Thị Xuân T2 chuyển khoản cho chị T 540.000.000 đồng. Đ thu lợi bất chính 56.712.000 đồng.
Đến ngày 27/11/2022, chị T không có tiền trả tiền vay gốc của khoản vay ngày 17/11/2022, nên tiếp tục vay lại số tiền này thời hạn 10 ngày, từ ngày 27/11/2022 đến ngày 05/12/2022. Đại đồng ý và thu lãi trước 10 ngày là 60.000.000 đồng, tương đương lãi suất 1%/ngày, là 365%/năm. Chị T trả số tiền lãi 60.000.000 đồng chuyển vào số tài khoản của Đường H, sinh năm 1998, ngụ: Thôn H, xã Q, C, Đắk Lắk. Đ thu lợi bất chính 56.712.000 đồng.
Tổng cộng Đ đã thu lợi bất chính trong lần cho vay này số tiền 113.424.000 đồng.
- - Lần thứ 6: Ngày 29/11/2022, Đ cho chị T vay số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay 10 ngày, từ ngày 29/11/2022 đến ngày 08/12/2022, thu lãi trước 10 ngày là 20.00.000 đồng, tương đương lãi suất 1%/ngày, 365%/năm. Đại thông qua số tài khoản của Nguyễn Thị Xuân T2 chuyển khoản cho chị T 180.000.000 đồng. Đ đã thu lợi bất chính số tiền 18.904.000 đồng.
Đến ngày 07/12/2022, Đại tính tổng số tiền của 02 khoản vay ngày 17/11/2022 và 29/11/2022 là 800.000.000 đồng, yêu cầu chị T bồi thường thiệt hại mỗi ngày 50.000.000 đồng, chị T đồng ý. Ngày 10/12/2022, Đ tính tiền thiệt hại 50.000.000 đồng/ngày của ngày 09 và ngày 10 tháng 12 năm 2022 là 100.000.000 đồng, cộng với số tiền vay gốc 800.000.000 đồng, thành tổng tiền nợ 900.000.000 đồng. Chị T và Đại làm hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất thửa số 15, tờ bản đồ số 14, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 670934, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH03353, tại khu phố H, phường H, thành phố T, do bà Lê Thị N, sinh năm1962 và ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1963 là cha mẹ ruột chị T đứng tên, tiền đặt cọc là số tiền 900.000.000 đồng chị T đang nợ Đ. Hai bên thống nhất hẹn đến ngày 15/12/2022 đến phòng Công chứng làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Đến ngày 23/12/2022, do không thực hiện được thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên chị T viết giấy bồi thường cho Đại số tiền 700.000.000 đồng vì làm sai hợp đồng đặt cọc ngày 10/12/2022. Tổng cộng chị T nợ Đ 1.600.000.000 đồng, và sử dụng số tiền này làm tiền đặt cọc sang nhượng quyền sử dụng đất phần đất cha mẹ chị T đứng tên. Hẹn đến ngày 28/12/2022 sẽ đến phòng Công chứng làm thủ tục ủy quyền toàn phần cho Đ.
Đối với khoản tiền vay của ông T3, tính đến ngày 26/12/2023 chị T nợ gốc và lãi là 1.120.000.000 đồng nên chị T vay của Đ 1.120.000.000 đồng thời hạn 03 tháng (từ ngày 26/12/2022 đến 26/3/2023) để trả cho ông T3, lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về thế chấp cho Đ. Đ yêu cầu chị T trả tiền thiệt hại ngày 25, 26/12/2022 là 100.000.000 đồng. Tổng số tiền chị T nợ Đ đến thời điểm này là 2.880.000.000 đồng (gồm: 100.000.000 đồng tiền bồi thường + 1.120.000.000 đồng cho mượn trả ông T3 + 1.600.000.000 đồng chị T đang nợ Đ + 60.000.000 đồng mượn trước đó để mua vật tư xây nhà). Sau đó, Đ và chị T thống nhất chia số tiền 2.880.000.000 đồng làm hai khoản vay gồm khoản vay 2.120.000.000 đồng và 760.000.000 đồng.
Đối với khoản vay 2.120.000.000 đồng, ngày 03/01/2023, chị T và Đ thỏa thuận, chị T làm hợp đồng chuyển nhượng phần đất do chị T đứng tên cho Đại để thế chấp vay tiền trong thời hạn 03 tháng (từ ngày 26/12/2022 đến 26/3/2023), lãi suất 7%/tháng, đồng thời viết bản cam kết xác nhận vay của Đ tổng số tiền 3,356.000.000 đồng, gồm khoản vay 2.120.000.000 đồng + tiền lãi 03 tháng 420.000.000 đồng (do tính thiếu 25.000.000 đồng); Khoản vay 760.000.000 đồng + tiền lãi 08 ngày (từ ngày 26/12/2022 đến ngày 03/01/2023) là 56.000.000 đồng, đến 26/3/2023 nếu chị T không thanh toán đủ tiền nợ gốc và lãi, Đ được quyền chuyển nhượng nhà, đất của chị T cho bên thứ ba. Cùng ngày, Đ nhờ người làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đến ngày 09/01/2023, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh T, chi nhánh thành phố T chỉnh lý trang 4 giấy đất cũ xác nhận Đại đứng tên quyền sử dụng đất. Đến ngày 31/3/2023, chị T chưa có tiền trả cho Đ theo thỏa thuận nên Đ chuyển nhượng lại phần đất này cho anh Lê Duy Q1, sinh năm 1997, ngụ phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
Khoản vay 760.000.000 đồng, Đại tính lãi 8.000.000 đồng/ngày tương đương 1.105%/ngày, 384%/năm. Đại giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ba mẹ chị T đứng tên để làm tin. Đến ngày 13/01/2023, Đ trả cho chị T giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cha mẹ chị T đứng tên. Chị T ký hợp đồng chuyển nhượng phần đất này cho chị Phạm Thị Thùy L, sinh năm: 1985, ngụ: Khu phố E, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh với giá 1.000.000.000 đồng. Trả nợ cho Đ 500.000.000 đồng qua tài khoản của H1. Nhận được 500.000.000 đồng, Đại trừ vào tiền lãi của khoản vay 760.000.000 đồng, từ ngày 26/12/2022 đến ngày 13/01/2023, là 17 ngày (bớt 02 ngày), thành 136.000.000 đồng; trừ 63.000.000 đồng tiền chi phí làm thủ tục chuyển nhượng đất từ chị T sang Đ; trừ 10.000.000 đồng chị T mượn của Đ; còn 291.000.000 đồng trừ vào tiền gốc của khoản vay này. Do đó, đến ngày 13/01/2023 chị T còn nợ Đại số tiền vay gốc của khoản vay này là 760.000.000 đồng - 291.000.000 đồng = 469.000.000 đồng.
Tính đến ngày 13/01/2023, Đ thu tiền lãi của khoản vay 760.000.000 đồng là 8.000.000 đồng/ngày, tương đương lãi suất 1,053%/ngày, 384,345%/năm. T6 lãi 17 ngày là 136.000.000 đồng, trong đó tiền thu lợi bất chính là 128.920.000 đồng.
- - Lần thứ 7: Ngày 28/01/2023, Đ thu tiền lãi của số tiền vay gốc 469.000.000 đồng từ 14/01/2023 đến ngày 28/01/2023 là 15 ngày với số tiền 31.000.000 đồng, tương đương lãi suất 0,44%/ngày, 61%/năm. Đ đã thu lợi bất chính 27.144.825 đồng. Sau đó, Đ cộng tiền nợ gốc 469.000.000 đồng với tiền lãi 31.000.000 đồng thành tiền vay gốc 500.000.000 đồng.
- - Lần thứ 8: Ngày 07/02/2023, Đ thu tiền lãi của khoản vay 500.000.000 đồng từ ngày 29/01/2023 đến 07/02/2023 là 10 ngày, mỗi ngày 5.000.000 đồng, thành tiền 50.000.000 đồng, tương đương lãi suất 1%/ngày, 365%/năm. Chị T đã trả cho Đại số tiền lãi 50.000.000 đồng. Đ đã thu lợi bất chính số tiền 47.260.000 đồng. Chị T nợ lại số tiền vay gốc 500.000.000 đồng cho đến nay.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Xuân Đ phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
Căn cứ khoản 2 Điều 201; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Xuân Đ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành án được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 19/02/2024 đến ngày 30/5/2024.
- Về biện pháp tư pháp:
- - Buộc bị cáo Bùi Xuân Đ nộp lại số tiền 1.131.000.000 đồng (một tỷ một trăm ba mươi mốt triệu đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Buộc bị cáo Bùi Xuân Đ nộp lại số tiền lãi thu được trong hoạt động cho vay (khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm) số tiền 28.942.466 đồng (hai mươi tám triệu chín trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng).
- - Buộc bị cáo Bùi Xuân Đ trả lại cho chị Nguyễn Thị Bích T phần tiền lãi tương ứng lại suất trên 20%/ năm, số tiền 658.557.534 đồng (sáu trăm năm mươi tám triệu, năm trăm năm mươi bảy nghìn, năm trăm ba mươi bốn đồng).
- - Buộc chị Nguyễn Thị Bích T nộp sung ngân sách nhà nước khoản tiền gốc còn nợ bị cáo là 469.000.000 đồng (bốn trăm sáu mươi chín triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 05/8/2024 bị cáo Bùi Xuân Đ kháng cáo xin được hưởng hình phạt tiền. Tại phiên tòa bị cáo Đ kháng cáo xin hưởng hình phạt tiền hoặc xin hưởng án treo.
Ngày 12/8/2024 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Bích T kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 88/HS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh để điều tra lại, đề nghị giải quyết triệt để hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm pháp luật, tuyên vô hiệu toàn bộ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giữa chị với bị cáo Đ; bị cáo Đ với Lê Duy Q1, buộc Lê Duy Q1 trả lại cho chị Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính diện tích 320m² thuộc thửa 500, tờ bản đồ số 14 tọa lạc khu phố H, phường H, thành phố T.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đ, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo Đ tranh luận: Bị cáo đã ăn năn hối cải, tự nguyện nộp 100.000.000 đồng tiền khắc phục hậu quả nên xin Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
Chị T tranh luận: Bị cáo không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
Bị cáo Đ nói lời nói sau cùng: Bị cáo hối hận về việc đã làm, xin Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.
- Về hành vi của bị cáo: Bị cáo Bùi Xuân Đại thừa N1 toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Từ ngày 22/9/2022 đến 07/02/2023, bị cáo cho chị Nguyễn Thị Bích T vay tiền nhiều lần với tổng số tiền 1.600.000.000 đồng, mức lãi suất từ 182%/năm đến 486%/năm, gấp từ 09 đến 24 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. T6 lợi bất chính số tiền 685.702.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Bùi Xuân Đ phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
- Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Xuân Đ thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, đã xâm phạm đến lợi ích của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đầy đủ năng lực để nhận thức hành vi cho vay với lãi suất vay tiền từ 182%/năm đến 486%/năm, gấp từ 09 đến 24 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự là trái quy định pháp luật. Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã xem xét những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông bà nội là người có công với cách mạng là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ hình vi nguy hiểm cho xã hội.
Tại cấp phúc thẩm bị tự nguyện nộp 100.000.000 đồng tiền khắc phục hậu quả, nên xem xét giảm phần nào hình phạt cho bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xét kháng cáo của chị Nguyễn Thị Bích T thấy rằng: Đối với kháng cáo của chị T là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án; kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 88/HS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh để điều tra lại, đề nghị giải quyết triệt để hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm pháp luật, tuyên vô hiệu toàn bộ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giữa chị với bị cáo Đ; bị cáo Đ với Lê Duy Q1, buộc Lê Duy Q1 trả lại cho chị Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính diện tích 320m² thuộc thửa 500, tờ bản đồ số 14 tọa lạc khu phố H, phường H, thành phố T. Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, cấp sơ thẩm không vi phạm tố tụng nên không có căn cứ hủy bản án sơ thẩm. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu hủy bản án sơ thẩm của chị T.
Tại phiên tòa phúc thẩm chị T yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Đ. Căn cứ khoản 1 Điều 65; khoản 4 Điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự chị T không có quyền kháng cáo đối với nội dung này.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận 01 phần kháng cáo của bị cáo Đ; không có căn cứ chấp kháng cáo của chị T. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh có căn cứ chấp nhận 01 phần.
- Về án phí:
Bị cáo Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Chị T phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Chấp nhận 01 phần kháng cáo của bị cáo Bùi Xuân Đ.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Xuân Đ phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm s, b Khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Xuân Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 19/02/2024 đến ngày 30/5/2024.
- Án phí:
Bị cáo Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Dương Thúy Hằng |
Bản án số 138/2024/HS-PT ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 138/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đ cho vay lãi nặng
