Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2024/HS-ST

Ngày 28 - 10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hà Thị Hồng Thu;
  2. Bà Dương Thị Thu Thuỷ.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Phấn, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Dương Thu Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 129/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Lưu Viết T, sinh ngày 14 tháng 01 năm 1996 tại tỉnh Lạng Sơn; căn cước công dân số: [...], ngày cấp 29/4/2024, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn Đ, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Ký N và bà Liễu Thị S; có vợ là Nông Thị N1 và 03 con; tiền án: 01 tiền án theo Bản án số 59/2022/HS-ST ngày 27/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tiền sự: 02 tiền sự theo Quyết định số 13/QĐ-XPHC ngày 17/4/2024 Công an xã H, thành phố L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức cảnh cáo; Quyết định số 15/QĐ-XPHC ngày 27/5/2024 Công an xã H, thành phố L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền 2.000.000đồng; nhân thân: chưa từng bị xử lý kỷ luật nhưng đã từng bị kết án, xử lý hành chính theo các tiền án, tiền sự trên; bị bắt, tạm giữ từ ngày 24/6/2024, tạm giam từ ngày 27/6/2024 cho đến nay. Có mặt;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nông Thị N1, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Hoàng Doãn C. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 40 phút ngày 24/6/2024, tổ công tác Công an thành phố L làm nhiệm vụ tại khu vực trước nhà số A, đường Đ, phường C, thành phố L đã phát hiện, bắt quả tang Lưu Viết T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong bàn tay trái của Lưu Viết T 01 (một) gói nilon màu xanh (kích thước 01cm x 2,4cm) có 02 (hai) gói giấy màu trắng (cùng kích thước 0,8cm x 1,8 cm) bên trong chứa chất bột màu trắng. Lưu Viết T khai nhận là ma túy H vừa mua để sử dụng. Ngoài ra, tạm giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu LONGCIN, màu sơn nâu, biển kiểm soát 98H5 - 2003.

Tại Kết luận giám định số 722/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L xác định: Chất bột màu trắng đã thu giữ trên là chất ma túy Heroin có khối lượng 0,208 gam (đã trừ bì).

Tại Cơ quan điều tra, Lưu Viết T khai nhận sử dụng ma túy H từ năm 2020 đến nay. Khoảng 11 giờ ngày 24/6/2024, Lưu Viết T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu LONGCIN, màu sơn nâu, biển kiểm soát 98H5 – 2003 đi đến cổng Bệnh viện E, đường V, phường C, thành phố L thì được một người đàn ông tên Đ (không rõ họ tên, địa chỉ) đưa cho 400.000đồng đi mua ma túy cùng nhau sử dụng. Lưu Viết T điều khiển xe đi đến khu vực cuối đường V, phường C, thành phố L gặp và mua với một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) 400.000đồng được 02 gói ma túy Heroin. Lưu Viết T cầm gói ma túy trong bàn tay trái và đang điều khiển xe mô tô trên đường Đ, phường C, thành phố L thì bị phát hiện bắt giữ như đã nêu trên.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối với người đàn ông tên Đ và người đàn ông bán ma túy cho Lưu Viết T nhưng không làm rõ được để xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu LONGCIN, màu sơn nâu, biển kiểm soát 98H5 – 2003 xác định chủ sở hữu là của chị Nông Thị N1, là vợ Lưu Viết T. Chị Nông Thị N1 không biết Lưu Viết T sử dụng xe mô tô để đi mua và tàng trữ ma túy.

Tại Cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố Lưu Viết T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Viết T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nông Thị N1 trình bày: chị là vợ của bị cáo, xe mô tô nhãn hiệu LONCIN màu sơn nâu, biển kiểm soát 98H5 – 2003 của chị đã được Cơ quan điều tra trả lại, đến nay chị không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lưu Viết T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Viết T từ 16 tháng đến 18 tháng tù, tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người chứng kiến, nhưng người chứng kiến đã có lời khai tại cơ quan điều tra, xét thấy việc vắng mặt người chứng kiến không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, với lời khai của người tham gia tố tụng khác, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 11 giờ 40 phút ngày 24/6/2024, tại khu vực trước nhà số A, đường Đ, phường C, thành phố L, Lưu Viết T có hành vi cất giấu trong lòng bàn tay trái 01 (một) gói nilon màu xanh bên trong có 02 (hai) gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng được xác định là ma tuý Heroin với khối lượng là 0,208gam (đã trừ bì), mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi trên của bị cáo Lưu Viết T đã đủ căn cứ để xác định phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm băng hoại đạo đức xã hội và là nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đang có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện để đáp ứng nhu cầu bản thân.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lưu Viết T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "tái phạm" theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, do bị cáo đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích mà lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

[6] Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản và 02 tiền sự đều về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên xác định bị cáo có nhân thân xấu.

[7] Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như phân tích ở trên, nhận thấy cần phải quyết định một mức hình phạt nghiêm khắc với bị cáo, để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và để phòng ngừa chung.

[8] Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

[9] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông tên Đ, Cơ quan điều tra chưa có cơ sở làm rõ để xử lý trong vụ án, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này, trường hợp có căn cứ để xử lý sẽ xem xét, giải quyết trong vụ án khác.

[10] Về việc xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau khi giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy; đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu LONGCIN, màu sơn nâu, biển kiểm soát 98H5 – 2003 của chị Nông Thị N1, cơ quan điều tra xác định chiếc xe thuộc sở hữu của chị Nông Thị N1 và chị Nông Thị N1 cho bị cáo mượn xe nhưng không biết bị cáo sử dụng xe làm phương tiện đi mua ma tuý, vì vậy Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô nói trên cho chị Nông Thị N1 là đúng quy định pháp luật, tại phiên toà chị Nông Thị N1 khẳng định không có yêu cầu gì, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[11] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[12] Xét thấy, nội dung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Lưu Viết T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  2. Xử phạt bị cáo Lưu Viết T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 24/6/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín bên trong đựng mẫu vật là chất ma túy sau giám định (theo Biên bản giao nhận vật chứng 01/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).
  4. Về án phí: Buộc bị cáo Lưu Viết T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND TP. Lạng Sơn;
  • - Công an TP. Lạng Sơn;
  • - CQTHAHS Công an TP. Lạng Sơn (2b);
  • - Nhà tạm giữ CA TP.Lạng Sơn;
  • - Chi cục THADS TP. Lạng Sơn;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 138/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Viết Tốt - Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger