|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 138/2024/HS-ST Ngày 22-10-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Mai Thị Duyên
Ông Nguyễn Văn Thiện
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trịnh Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 134/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn B, sinh ngày 20 tháng 3 năm 1991 tại Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đ và bà Phạm Thị L; có vợ là Mai Thị T và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 30/6/2024, đến ngày 05/7/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Lê Văn H mặt.
- Ông Nguyễn Văn H1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 30 phút ngày 29/6/2024, tại khu vực ngõ D, phường Đ, quận H, thành phố H công tác Công an phường Đ và Công an phường Đ phát hiện Phạm Văn B hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của B01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long chứa 01 túi nilon viền xanh kích thước 2,5cm x 2,5cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, B2 là ma túy “đá”, mục đích cất giấu để sử dụng, tổ công tác đã đưa Phạm Văn B trụ sở công an lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng để tiến hành giám định.
Kết luận giám định số 863/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,27 gam, loại Methamphetamine.
Tại cơ quan công an, Phạm Văn B khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 19 giờ ngày 29/6/2024, Phạm Văn B thuê “xe ôm” của một người đàn ông không quen biết đi từ khu vực quận H, H khu vực đường T, quận L, T đây, B và mua của một người đàn ông không quen biết 500.000 đồng ma túy “đá”. Người này đưa cho B01 bao thuốc lá bên trong có 01 túi nilon chứa ma túy “đá”, B giấu trong lòng bàn tay trái và đi “xe ôm” về quận H tìm địa điểm để sử dụng. Khi B xuống xe, đi bộ ở khu vực ngõ D đường Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng thì bị tổ công tác Công an phường Đ Công an phường Đ phát hiện bắt quả tang thu giữ số ma túy trên.
Ngoài ra, Phạm Văn B khai nhận vào ngày 21/6/2024, B vào khu vực đường T, quận L, thành phố H 300.000 đồng ma túy Methamphetamine của một người đàn ông không rõ căn cước lai lịch, mang về khu vực hồ P, thuộc phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng một mình sử dụng hết.
Về vật chứng: 01 phong bì dấu niêm phong số 863MT/PC09 chứa 0,16 gam tinh thể, cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu vật hoàn lại sau giám định, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An để quản lý theo quy định.
Tại Cáo trạng số 135/CT-VKS ngày 30 tháng 9 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố Phạm Văn B về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn B khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Văn B về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo Phạm Văn B từ 16 tháng tù đến 19 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo B. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dấu niêm phong sau giám định số 863MT/PC09 chứa 0,16 gam tinh thể, cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu vật hoàn lại sau giám định. Về án phí: Bị cáo B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:
[1] Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn B không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[3] Hồi 19 giờ 30 phút ngày 29/6/2024, tại khu vực ngõ D đường Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, Phạm Văn B hành vi cất giữ trái phép 0,27 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
[4] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Bị cáo Phạm Văn B có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
[7] Bị cáo Phạm Văn B không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[8] 01 phong bì dấu niêm phong số 863MT/PC09 chứa 0,16 gam tinh thể, cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu vật hoàn lại sau giám định. Xét đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[9] Đối với hai người đàn ông đã bán ma túy cho Phạm Văn B ngày 21/6/2024 và ngày 29/6/2024 tại khu vực đường T, quận L, thành phố H không xác định được căn cước lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H có cơ sở để xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[10] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Văn B ngày 21/6/2024, Công an quận H ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[11] Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Văn B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: Phạm Văn B (mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/6/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì dấu niêm phong số 863MT/PC09 chứa 0,16 gam tinh thể, cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu vật hoàn lại sau giám định.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 10 năm 2024 giữa Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc:
Bị cáo Phạm Văn B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo Phạm Văn B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài |
|
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 138/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: B - Tàng trữ ma tuý
