Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HẢI CHÂU TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2024/DS-ST

Ngày 27.9.2024

V/v: “Tranh chấp chia thừa kế”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Cúc
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hải
  • Ông Hoàng Minh Trinh
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 426/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia thừa kế” Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 426/2024/QĐXXST-DS ngày 06/9/2024, quyết định hoãn phiên tòa ngày 19/9/2024, thông báo thời gian địa điểm mở lại phiên tòa số 426/2024/QĐ – ST ngày 19/09/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Thị B, sinh năm: 1951. Địa chỉ tại: CT F P, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
  • Bị đơn: Ông Trần H, sinh năm: 1956. Địa chỉ: K H9 Q, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt lần 2 không có lý do.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị M, sinh năm: 1961. Địa chỉ: E H, tổ A phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị B trình bày:

Ba tôi trên Trần D và mẹ tên Nguyễn Thị Q. Ba mẹ tôi sinh được 03 người con gồm: Tôi là Trần Thị B sinh năm: 1954; ông Trần H, sinh năm: 1956; bà Trần Thị M, sinh năm: 1961. Ngoài ra không có con riêng. Ba tôi Trần Du mất năm 1968 bà Nguyễn Thị Q mất năm 2021. Lúc sinh thời ba mẹ tôi để lại di sản thừa kế là nhà đất tại thửa đất số 408; tờ bản đồ số 25; diện tích 63 m² tại địa chỉ: K H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Trước đây, căn nhà ba mẹ tôi để làm chỉ là căn nhà ván xuống cấp trầm trọng và sau này tôi là người chăm nuôi mẹ già trước khi bà mất tôi và bà B đã tiến hành cải tạo sữa chữa ngôi nhà để ở. Tuy nhiên do hoàn cảnh khó khăn, không có tiền nên chúng tôi sữa chữa ngôi nhà trên trong thời gian dài. Hiện nay đã quá lâu nên tôi không nhớ là sửa nhà năm nào. Sau khi mẹ tôi mất năm 2021, bà M ly hôn chồng nên chuyển về sinh sống tại ngôi nhà trên. Từ khi chuyển về sinh sống hương khói cho ba mẹ thì ông H nhiều lần đến gây gỗ, cản trở không cho bà M ở. Nay để đảm bảo quyền lợi, tôi yêu cầu Toà án giải quyết buộc Toà án chia di sản thừa kế của ông Trần D và bà Nguyễn Thị Q là nhà đất thửa đất số 408; tờ bản đồ số 25; diện tích 63 m² tại địa chỉ: K H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Theo yêu cầu của tôi, Tòa án đã ra Quyết định trưng cầu thẩm định giá đối với tài sản tranh chấp, Công ty cổ phần T tiến hành định giá tài sản tranh chấp, kết quả cung cấp cho Tòa án là Chứng thư thẩm định giá số 5240061/CT – BTC Valuation ngày 14 tháng 3 năm 2024. Theo chứng thư giá trị tài sản nhà và đất là 2.220.554.063 đồng (hai tỷ hai trăm hai mươi triệu năm trăm năm mươi bốn ngàn không trăm sáu mươi ba đồng). Tôi yêu cầu phần tôi được thừa kế là 1/3, cụ thể là 740.184.687 đồng.

Do chúng tôi tuổi già sức yếu, sức khỏe không đảm bảo, ông Trần H không hợp tác và không lên Tòa giải quyết nên tôi yêu cầu Tòa án làm các thủ tục để xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị M trình bày:

Bà M thống nhất đối với lời trình bày của bà Trần Thị B.

Ba tôi trên Trần D và mẹ tên Nguyễn Thị Q. Ba mẹ tôi sinh được 03 người con gồm: Tôi là Trần Thị B, sinh năm: 1954; ông Trần H, sinh năm: 1956; bà Trần Thị M, sinh năm: 1961. Ngoài ra ba mẹ tôi không có con riêng. Ba tôi Trần Du mất năm 1968, mẹ tôi bà Nguyễn Thị Q mất năm 2021. Lúc sinh thời ba mẹ tôi để lại di sản thừa kế là nhà đất tại thửa đất số 408; tờ bản đồ số 25; diện tích 63 m² tại địa chỉ: K H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Trước đây, căn nhà ba mẹ tôi làm chỉ là căn nhà ván xuống cấp trầm trọng và sau này tôi là người chăm nuôi mẹ già trước khi bà mất tôi và bà M đã tiến hành cải tạo sữa chữa ngôi nhà để ở. Tuy nhiên do hoàn cảnh khó khăn, không có tiền nên chúng tôi sữa chữa ngôi nhà trên trong thời gian dài. Hiện nay đã quá lâu nên tôi không nhớ là sửa nhà năm nào. Sau khi mẹ tôi mất năm 2021, bà M ly hôn chồng nên chuyển về sinh sống tại ngôi nhà trên. Từ khi chuyển về sinh sống hương khói cho ba mẹ thì ông H nhiều lần đến gây gỗ, cản trở không cho bà M ở. Nay để đảm bảo quyền lợi của các anh chị em trong gia đình, tôi yêu cầu Toà án giải quyết buộc Toà án chia di sản thừa kế của ông Trần D và bà Nguyễn Thị Q là nhà đất thửa đất số 408; tờ bản đồ số 25; diện tích 63 m² tại địa chỉ: K H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Theo yêu cầu của bà B, Tòa án đã ra Quyết định trưng cầu thẩm định giá đối với tài sản tranh chấp, Công ty cổ phần T tiến hành định giá tài sản tranh chấp, kết quả cung cấp cho Tòa án là Chứng thư thẩm định giá số 5240061/CT – BTC Valuation ngày 14 tháng 3 năm 2024. Theo chứng thư giá trị tài sản nhà và đất là 2.220.554.063 đồng (hai tỷ hai trăm hai mươi triệu năm trăm năm mươi bốn ngàn không trăm sáu mươi ba đồng). Tôi yêu cầu phần tôi được thừa kế là 1/3, cụ thể là 740.184.687 đồng.

Do chúng tôi tuổi già sức yếu, sức khỏe không đảm bảo, ông Trần H không hợp tác và không lên Tòa giải quyết nên tôi yêu cầu Tòa án làm các thủ tục để xét xử vụ án theo quy định của pháp luật tạo điều kiện cho chúng tôi yên ổn về tinh thần và sức khỏe cũng như ổn định chỗ ở.

Bị đơn ông Trần H vắng mặt không có lý do tại phiên tòa lần thứ hai.

  • - Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
  • - Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng:

Về tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định tại Điều 70,71,73 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ các điều 649, 650, 651, 660 Bộ luật dân sự, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và địa chỉ nơi cư trú của bị đơn thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Đây là tranh chấp về chia thừa kế nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ tại quận H, thành phố Đà Nẵng, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Bị đơn là ông Trần H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần, đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt bị đơn

[2] Về nội dung:

[2.1] Về xác định di sản và hàng thừa kế:

Trong quá trình chung sống ông Trần D (sinh năm: 1908, mất năm: 1968) và bà Nguyễn Thị Q (sinh năm: 1921, mất năm: 2021) có tạo lập được nhà đất tại thửa đất số 408; tờ bản đồ số 25; diện tích 63 m² tại địa chỉ: K H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3401072899 ngày 13/3/2001 cho ông Trần D (chết) và bà Nguyễn Thị Q.

Ông Trần D (sinh năm: 1908, mất năm: 1968) và bà Nguyễn Thị Q (sinh năm: 1921, mất năm: 2021) sinh được 04 người con gồm: Bà Trần Thị B: sinh năm: 1954; ông Trần H, sinh năm: 1956; bà Trần Thị M, sinh năm: 1961; bà Trần Thị H1: sinh năm: 1958 (chết và không lập gia đình). Ngoài ra không có con riêng nào khác.

Ông Trần Du C năm 1968 và bà Q chết năm 2021, cả hai đều không để lại di chúc. Tại thời điểm chết, hàng thừa kế thứ nhất còn sống của ông D và bà Q còn lại 03 người là: Bà Trần Thị B, ông Trần H, bà Trần Thị M.

Ông Trần D và bà Q chết không để lại di chúc nên di sản của ông D bà Q là nhà và quyền sử dụng đất nêu trên được chia theo quy định của pháp luật. Căn cứ các Điều 609, 611, 612, 613, 623, 650, 651, 652 Bộ luật dân sự và các Điều 167, 179 Luật đất đai năm 2013 HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B đối với ông Trần H về việc chia di sản thừa kế của vợ chồng ông D bà Q.

Theo quy định của pháp luật thì phần di sản của ông D bà Q để lại sẽ được chia đều cho 03 người con là bà Trần Thị B, ông Trần H, bà Trần Thị M.

[2.2] Về giá trị di sản: Căn cứ Chứng thư thẩm định giá, tổng diện tích 63m² đất hiện có giá trị: 2.161.144.314 đồng. Tổng giá trị nhà là 59.409.749 đồng. Tổng cộng giá trị nhà và đất là 2.220.554.063 đồng. Mỗi người được nhận giá trị là 740.184.687đồng.

[2.3] Đối với nhà và đất là di sản thừa kế hiện nay đang do bà Trần Thị M thực tế quản lý, sử dụng. Bà Trần Thị B, ông Trần H đều có nhà riêng. Do đó, HĐXX căn cứ Điều 651 BLDS 2015 thấy cần giao ngôi nhà gắn liền trên đất cho bà Trần Thị M được quyền sở hữu.

Bà M có nghĩa vụ thối trả cho bà Trần Thị B, ông Trần H mỗi người số tiền 740.184.687 đồng.

Bà Trần Thị M có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, kê khai sự thay đổi, biến động đối với nhà và đất theo quy định pháp luật sau khi hoàn tất các nghĩa vụ.

[3].Về án phí DSST: Bà Trần Thị B, ông Trần H, bà Trần Thị M là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[4]. Về chi phí tố tụng:

Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản bà Trần Thị B, ông Trần H, bà Trần Thị M mỗi người phải chịu theo tỉ lệ được nhận. Cụ thể:

  • - Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: 3.000.000 đồng, bà Trần Thị B, ông Trần H, bà Trần Thị M, mỗi người phải chịu là 1.000.000 đồng.
  • Do bà Trần Thị B đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 3.000.000 đồng nên ông Trần H, bà Trần Thị M phải hoàn trả lại cho bà B mỗi người 1.000.000đồng (một triệu đồng đồng chẵn)
  • - Chi phí định giá tài sản: 23.000.000 đồng. Bà Trần Thị B, ông Trần H, bà Trần Thị M, mỗi người phải chịu phải chịu là 7.666.666 đồng.
  • Do bà Trần Thị B đã nộp tạm ứng chi phí định giá tài sản 23.000.000 đồng, nên ông Trần H, bà Trần Thị M phải hoàn trả lại cho bà B mỗi người 7.666.666 đồng (bảy triệu sáu trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi sáu đồng)

Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng các điều 26, 35, 39, 63, 147, 165, 235, 266, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Áp dụng Điều 468, 609, 610, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652, 660 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Tranh chấp chia di sản thừa kế theo pháp luật” của bà Trần Thị B đối với ông Trần H.

    Công nhận phần tài sản là nhà đất tại thửa đất số 408; tờ bản đồ số 25; diện tích 63 m² tại địa chỉ: K H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng trị giá 2.220.554.063 đồng (hai tỷ hai trăm hai mươi triệu năm trăm năm mươi bốn ngàn không trăm sáu mươi ba đồng) là di sản thừa kế của ông Trần D và bà Nguyễn Thị Q được chia làm 03 kỷ phần cho những người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm bà Trần Thị B, ông Trần H, bà Trần Thị M, mỗi kỷ phần là 740.184.687 đồng.

    Giao cho bà Trần Thị M được quyền sở hữu, sử dụng nhà và đất tại thửa đất số 408; tờ bản đồ số 25; diện tích 63 m² tại địa chỉ: K H, phường H, quận H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do UBND thành phố Đ cấp ngày 13/3/2001.

    Bà Trần Thị M có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, kê khai sự thay đổi, biến động đối với nhà và đất theo quy định pháp luật sau khi hoàn tất các nghĩa vụ.

  2. Về án phí DSST:
    • - Bà Trần Thị B, ông Trần H, bà Trần Thị M là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về chi phí tố tụng:

    Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản bà Trần Thị B, ông Trần H, bà Trần Thị M mỗi người phải chịu theo tỉ lệ được nhận. Cụ thể:

    • - Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: 3.000.000 đồng, bà Trần Thị B, ông Trần H, bà Trần Thị M, mỗi người phải chịu là 1.000.000 đồng.
    • Do bà Trần Thị B đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 3.000.000 đồng nên ông Trần H, bà Trần Thị M phải hoàn trả lại cho bà B mỗi người 1.000.000đồng (một triệu đồng đồng chẵn)
    • - Chi phí định giá tài sản: 23.000.000 đồng. Bà Trần Thị B, ông Trần H, bà Trần Thị M, mỗi người phải chịu phải chịu là 7.666.666 đồng.
    • Do bà Trần Thị B đã nộp tạm ứng chi phí định giá tài sản 23.000.000 đồng, nên ông Trần H, bà Trần Thị M phải hoàn trả lại cho bà B mỗi người 7.666.666 đồng (bảy triệu sáu trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi sáu đồng)

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu mà người thi hành án không thi hành thì phải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

4. Án xử công khai sơ thẩm, báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết trích sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - Viện KSND quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Minh Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp chia thừa kế

  • Số bản án: 138/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger