|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 138/2024/HSST
Ngày: 24 tháng 9 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thùy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Trà.
Ông Nguyễn Xuân Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quốc - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 98/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85A/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 12 tháng 11 năm 1985, tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: Tổ E, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: K H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng và Tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không. Con ông: Nguyễn P (sinh năm 1957) và bà Nguyễn Thị Thu H (sinh năm: 1964), đều còn sống. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất ; Vợ là Phạm Thị H1 (sinh năm 1996) ; 02 con (lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2014)
Tiền án: Bản án số 28/2018/HSST ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999 xử phạt Nguyễn Văn N 07 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Đến ngày 22/5/2023 chấp hành xong án phạt tù, theo quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS, N chưa được xóa án tích. Căn cứ vào khoản 2 Điều 53 BLHS, N thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại nhà tạm giữ Công an quận H từ ngày 12 tháng 3 năm 2024, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 12 tháng 9 năm 2000, tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: Tổ E, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: K H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng và Tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không. Con ông: Nguyễn P (sinh năm 1957) và bà Nguyễn Thị Thu H (sinh năm: 1964), đều còn sống. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 29/9/2020, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 51/2020/QĐ-TA của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại nhà tạm giữ Công an quận H từ ngày 12 tháng 3 năm 2024, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Tôn Thất Hoàng B (tên gọi khác B1), sinh năm 1990.
- Địa chỉ: K N, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
- - Ông Lê Hữu T, sinh năm 2000.
- Địa chỉ: K L, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
- - Bà Ngô Thị Thu H2, sinh năm 1964.
- Địa chỉ: K H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- - Ông Nguyễn H3, sinh năm 1962.
- Địa chỉ: K T, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
- - Ông Hoàng Anh T1, sinh năm 1967.
- Địa chỉ: K N, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
Người làm chứng:
- - Ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1968.
- Địa chỉ: 2 Ông Í, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 12/3/2024, Tôn Thất Hoàng B (sinh năm 1990; trú: K N, thành phố Đà Nẵng) dùng số điện thoại 0905.974.xxx liên lạc với Nguyễn Văn N để mua 500.000 đồng ma túy đá, N đồng ý bán và yêu cầu B chuyển tiền vào số tài khoản 9934962931 Ngân hàng V của N và hẹn đến kiệt B đường H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng để giao ma túy. N điều khiển xe mô tô hiệu Honda
Airblade biển số 43C2-082.33 mang theo 02 gói ma túy, 01 gói bán cho B và 01 gói bán cho người khác, khi đến nơi N vứt gói ma túy bán cho B xuống đất chỗ gần xe của N và chỉ chỗ để B tự nhặt. Tuy nhiên, lúc này thấy Lực lượng Công an quận H đến kiểm tra thì N liền điều khiển xe bỏ chạy, B thì chạy bộ. Sau đó, Lực lượng Công an khống chế được N và B, thu giữ trên tay trái của N 01 miếng băng keo 02 mặt màu vàng kích thước (6,5 x 2,5)cm được cuộn lại, bên trong có 01 gói nilong kích thước (2,5 x 2,5)cm chứa tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong ký hiệu A. Đối với gói ma túy bán cho B thì B chưa kịp nhặt, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã tiến hành truy tìm tang vật nhưng không tìm thấy.
Qua quá trình điều tra xác định: Do không có việc làm và cần tiền tiêu xài cá nhân nên N đã nhiều lần mua ma tuý về để bán kiếm lời, cụ thể như sau:
Khoảng cuối tháng 02 năm 2024, Nguyễn Văn N thông qua ứng dụng Telegram đặt mua của một thanh niên (không rõ lai lịch) 01 hộp mười ma túy đá với giá 8.500.000 đồng và hẹn giao tại bến xe trung tâm thành phố Đà Nẵng, khi đến nơi N nhận ma túy và đưa tiền mặt cho người này. Sau khi có ma túy, N đã phân ma túy ra các gói nhỏ để bán. Số ma túy này N đã bán hết số ma tuý này nhưng không nhớ rõ đã bán cho ai, N thu lợi bất chính số tiền 11.500.000 đồng.
Ngày 09/3/2024, thông qua ứng dụng Telegram N1 có đặt mua 800.000 đồng ma túy Ketamine của một thanh niên (không rõ lai lịch) để bán kiếm lời, người này đồng ý và hẹn giao ma túy gần sân vận động C1, thành phố Đà Nẵng. Khi đến nơi thì thấy ma túy được vứt dưới đất nên N1 đến nhặt và để tiền tại vị trí vừa nhặt ma túy. Số ma túy này N1 cất giấu tại tầng 2 nhà số K đường H, phường H, quận H, TP . và đã bị thu giữ.
Ngày 10/3/2024, N1 liên hệ với Nguyễn Thanh C (sinh năm 1995; trú: K T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng) thông qua ứng dụng Zalo “Th C” và nhờ mua giúp 01 hộp mười ma túy đá với giá 5.500.000 đồng để về bán kiếm lời, C đồng ý và hẹn giao ma túy tại B thành phố Đà Nẵng, N1 dùng tài khoản Ngân hàng V, số tài khoản 9934962931 chuyển tiền mua ma túy vào tài khoản Ngân hàng O, số tài khoản 0000000052 của C. Sau khi có được ma túy, N1 phân làm 02 gói, mỗi gói là 01 hộp năm, N1 cất giấu 01 gói tại nhà địa chỉ tổ A phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng và 01 gói tại tầng 2 nhà số K đường H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. N1 đã phân nhỏ ra bán cho nhiều lần cho những người nghiện (không rõ lai lịch). Trong đó, N1 có nhờ Nguyễn Văn L là em ruột của N1 bán ma tuý giúp, L biết N1 cất giấu ma túy để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, Ngày 12.3.2024, L đã đến Công an quận H để đầu thú và khai nhận đã giúp N1 bán ma túy 03 lần, cụ thể:
Lần 1: Vào khoảng 19 giờ 30 ngày 09/3/2024, N1 liên hệ với L thông qua Z “Lợi Con” nhờ lấy giúp 01 gói ma túy đá 0,15gam, L lên chỗ N1 cất giấu ma túy trong nhà, lấy gói ma túy N1 yêu cầu, sau đó bỏ tại trụ điện gần nhà để người mua ma túy tự đến lấy.
Lần 2: Khoảng 20 giờ 18 ngày 09/3/2024, tương tự như lần 1, L lấy gói ma túy 0,15gam theo như yêu cầu của N1 và giao cho 01 thanh niên (không rõ lai lịch) tại trước nhà.
Lần 3: Khoảng 19 giờ 30 ngày 10/3/2024, tương tự như lần 2, L lấy gói ma túy 0,15gam theo như yêu cầu của N1 và giao cho 01 thanh niên (không rõ lai lịch) tại trước nhà.
Tất cả tiền bán ma túy trên đều do N1 nhận, L chỉ việc phân chia ma túy và giao cho khách, không nhận lợi ích gì từ việc bán ma túy giúp cho N1. Đối với số ma túy N1 cất giấu tại nhà địa chỉ tổ A phường H, quận L, TP . thì L không biết.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 miếng băng keo 02 mặt màu vàng kích thước (6,5 x 2,5)cm được cuộn lại, bên trong có 01 gói nilong kích thước (2,5 x 2,5)cm chứa tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong ký hiệu A
- - 01 xe mô tô Honda Airblade biển số 43C2-082.33 thu giữ của N1
- - 01 điện thoại di động hiệu IP 11 Promax, gắn sim 0934.962.931 thu giữ của N1.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Damsel, biển số 43H1-9421 thu giữ của B.
- - 01 điện thoại di động hiệu IP 5s, gắn sim 0905.974.615 và 01 điện thoại di động IP 6s Plus gắn sim số 0345.261.090 thu giữ của B
- - Tiền mặt 5.000.000 VNĐ thu giữ của N1, có từ mua bán ma túy.
- - 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, gắn sim 0796787832 thu giữ của L.
Cơ quan CSĐT Công an quận H tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn N tại:
1. K H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, qua đó phát hiện và thu giữ: Tại vị trí đầu giường phòng ngủ tầng 2 (phía trước bàn thờ), phát hiện 01 hộp giấy màu trắng kích thước (11 x 10 x 5)cm, bên trong chứa:
- - 01 gói nilong kích thước (7 x 4)cm, bên trong chứa các tinh thể rắn màu trắng, niêm phong ký hiệu A1.
- - 01 ống hút nhựa màu trắng, dài khoảng 10,5cm được hàn kín 01 đầu, đầu còn lại được cắt nhọn.
- - 01 ống hút nhựa màu xanh lá cây, dài khoảng 13,5cm được hàn kín 01 đầu, đầu còn lại được cắt nhọn.
- - 01 ống hút nhựa màu đỏ, dài khoảng 22cm.
- - 01 ống hút nhựa màu xanh dương, dài khoảng 22cm.
- - 01 gói nilong kích thước (11 x 7)cm, bên trong chứa:
- + 01 gói nilong kích thước (3 x 3)cm chứa tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong ký hiệu A1.
- + 02 gói nilong kích thước (4 x 7)cm, bên trong có chất bột dính màu trắng, niêm phong ký hiệu A1.
- + 15 gói nilong kích thước (2,5 x 2,5)cm, chưa qua sử dụng.
- - 01 cái kéo bằng kim loại màu trắng.
- - 01 nỏ thủy tinh.
- - 01 cân điện tử màu đen, kích thước (6,5 x 3,5)cm.
- - 01 cuộn băng keo 02 mặt có giấy dán màu vàng, đã qua sử dụng.
2. Tổ 129 phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, qua đó phát hiện và thu giữ: Tại ngăn kéo giữa của tủ quần áo trong phòng ngủ tầng trệt có 01 gói nilong kích thước (4 x 5)cm bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong ký hiệu A2.
Nguyễn Văn N khai nhận tất cả số ma túy khám xét thu giữ được đều là của N, N cất giấu để bán kiếm lời, những dụng cụ thu giữ là của N dùng để phân chia ma túy.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy thông qua mẫu nước tiểu bằng que thử CA Test kít: N, L, B dương tính với ma túy.
Tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, gắn sim số 0934.962.xxx của Nguyễn Văn N; điện thoại nhãn hiệu Iphone 5s, gắn sim số 0905.974.615 của Tôn Thất Hoàng B; điện thoại nhãn hiệu Iphone, gắn sim số 0796.787.xxx của Nguyễn Văn L đều phát hiện có nội dung liên quan đến mua bán ma túy, bản ảnh kèm theo.
Trên ứng dụng Zalo có nội dung liên quan đến ma túy giữa N và tài khoản Z “Lợi con”, “Th Cường”, có bản ảnh kèm theo.
Theo Kết luận giám định số 220/KL-KTHS ngày 21/3/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ:
Mẫu gửi giám định ký hiệu A1 được chia thành 03 mẫu như sau:
- - Tinh thể rắn màu trắng trong 01 gói nilong kích thước (7 x 4) cm,, ký hiệu A1a.
- - Tinh thể rắn màu trắng trong 01 gói nilong kích thước (3 x 3) cm, ký hiệu A1b.
- - Chất bám dính trong 02 gói nilong kích thước (4 x 7) cm, ký hiệu A1c.
Kết Luận:
- - Tinh thể rắn màu trắng ký hiệu A, A1a, A2 và chất bám dính ký hiệu A1c gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu A: 0,247gam; mẫu A1a: 3,549gam; mẫu A2: 4,926gam.
- - Tinh thể rắn màu trắng ký hiệu A1b gửi giám định là ma túy loại Ketamine; khối lượng 0,613gam.
- - H5 lại đối tượng giám định: Mẫu vật và toàn bộ vỏ bao gói được hoàn lại theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 14/3/2024.
Căn cứ điểm b, khoản 3, Điều 5, Chương II của Nghị Định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015, tính khối lượng của 02 chất ma túy (Methamphetamine và Ketamine) của N mua bán như sau:
Methamphetamine: A + A1a + A2 = 0,247 + 3,549 + 4,926 = 8,722 gam.
Ketamine: 0,613 gam.
(Methamphetamine: 8,722/30gam x 100%) + (Ketamine: 0,613/100gam x 100%) = 29% + 0,613% = 29,613% dưới 100%.
Do đó, khối lượng 02 chất ma túy (Methamphetamine và Ketamine) của Nguyễn Văn N mua bán thuộc điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của N và L phù hợp với lời khai người làm chứng, người liên quan, biên bản kiểm tra điện thoại, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xử lý vật chứng trong vụ án:
Xe mô tô hiệu Honda Airblade màu xanh đen, biển số 43C2-082.33 do anh Lê Hữu T đứng tên chủ sở hữu. Ngày 28/02/2024 anh T có bán xe lại cho bà Ngô Thị Thu H2. Ngày 12/3/2024, bà H2 đưa xe cho N mượn làm phương tiện đi lại, không biết việc N sử dụng vào việc phạm tội. Do vậy, ngày 04/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã trả xe lại cho bà H2.
Xe mô tô hiệu Damsel màu xanh, biển số 43H1-9421 do ông Nguyễn H3 đứng tên chủ sở hữu. Khoảng năm 2022 ông H3 có đưa xe cho ông Hoàng Anh T1 để sử dụng. Tối ngày 12/3/2024, ông T1 có đưa xe Tôn Thất Hoàng B mượn làm phương tiện đi lại, không biết việc B sử dụng vào việc đi mua ma túy. Do vậy, ngày 04/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã trả xe lại cho ông T1.
Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu chờ xử lý:
- - Mẫu còn lại sau giám định và vỏ bao gói theo Kết luận giám định số 220/KL-KTHS ngày 21/3/2024.
- - 01 điện thoại di động hiệu IP 11 Promax, gắn sim 0934.962.931 thu giữ của N.
- - 01 điện thoại di động hiệu IP 5s, gắn sim 0905.974.615 và 01 điện thoại di động IP 6s Plus gắn sim số 0345.261.090 thu giữ của B
- - Tiền mặt 5.000.000 VNĐ thu giữ của N, có từ mua bán ma túy.
- - 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, gắn sim 0796787832 thu giữ của L.
- - 04 ống hút nhựa; 15 gói nilong kích thước (2,5 x 2,5)cm, chưa qua sử dụng; 01 cái kéo bằng kim loại màu trắng; 01 nỏ thủy tinh; 01 cân điện tử màu đen, kích thước (6,5 x 3,5)cm; 01 cuộn băng keo 02 mặt có giấy dán màu vàng, đã qua sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 96/CT-VKS ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p, q khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự. Nguyễn Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo Nguyễn Văn L đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b, p, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 11 (mười một) năm đến 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù và buộc N nộp lại 11.500.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung công quỹ Nhà nước.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Xử lý vật chứng:
- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tuyên:
- + Tịch thu tiêu hủy: Mẫu còn lại sau giám định và vỏ bao gói theo Kết luận giám định số 220/KL-KTHS ngày 21/3/2024; 04 ống hút nhựa; 15 gói nilong kích thước (2,5 x 2,5)cm, chưa qua sử dụng; 01 cái kéo bằng kim loại màu trắng; 01 nỏ thủy tinh; 01 cân điện tử màu đen, kích thước (6,5 x 3,5)cm; 01 cuộn băng keo 02 mặt có giấy dán màu vàng, đã qua sử dụng.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu IP 11 Promax, gắn sim 0934.962.931 thu giữ của N; 01 điện thoại di động hiệu IP 5s, gắn sim 0905.974.615; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, gắn sim 0796787832 thu giữ của L, sử dụng vào việc liên lạc để mua bán ma túy; 5.000.000 đồng là tiền thu giữ của N, có từ mua bán ma túy.
- + Hoàn trả cho Tôn Thất Hoàng B 01 điện thoại di động IP 6s Plus gắn sim số 0345.261.090.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, đã thực sự ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do không có việc làm và cần tiền tiêu xài cá nhân, nên Nguyễn Văn N thông qua ứng dụng Telegram đã nhiều lần mua ma túy về bán để kiếm lời, cụ thể: Vào cuối tháng 02 năm 2024, N mua 8.500.000 đồng ma tuý của một thanh niên (không rõ lai lịch), N phân chia ra nhiều gói nhỏ và đã bán hết số ma túy cho nhiều người được 20.000.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính 11.500.000 đồng; vào ngày 09/3/2024, N tiếp tục mua của một thanh niên (không rõ lai lịch) 0,613 gam ma túy Ketamine với giá 800.000 đồng để bán, N đem về cất giấu tại tầng 2 nhà số K H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
Tiếp tục, vào ngày 10/3/2024, N liên hệ với Nguyễn Thanh C nhờ mua giúp 5.500.000 đồng ma túy đá. Sau khi có được ma túy, N đã phân nhỏ để bán cho nhiều người (không rõ lai lịch). Nguyễn Văn L sống cùng nhà với N nên biết việc N cất giấu ma túy để bán kiếm lời. Từ ngày 09 đến ngày 10/3/2024, L đã giúp N bán ma túy đá 03 lần, L không nhận lợi ích gì từ việc bán ma túy giúp N. Đến khoảng 20 giờ ngày 12/3/2024, tại kiệt B đường H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, N đang bán ma tuý cho Tôn Thất Hoàng B thì bị lực lượng Công an quận H phát hiện, bắt quả tang và thu giữ số ma tuý còn lại nêu trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán ma tuý là 11.500.000 đồng. Khi bắt giữ bị cáo N tiếp tục thu 5.000.000 đồng N khai số tiền trên có được từ việc mua bán ma tuý. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở để khẳng định N đã rất nhiều lần mua bán cho rất nhiều người - hơn 5 lần, L đã bán 3 lần giúp N, số lượng các chất ma tuý thoả mãn từ 2 chất trở lên, số tiền thu lợi từ việc mua bán ma túy do bị cáo N thu nhưng bị cáo L được hưởng là có ma tuý để sử dụng. Bị cáo N đã phạm tội rất nghiêm trọng chưa được xoá án tích mà lại phạm tội mới là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, bị cáo N đã phạm tội thuộc trường hợp phạm tội từ hai
lần trở lên, từ 02 chất ma tuý và tái phạm nguy hiểm. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, p, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo L đã phạm tội thuộc trường hợp phạm tội từ hai lần trở lên, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Xét vai trò của từng bị cáo HĐXX thấy: N là người bỏ tiền mua ma tuý cất giấu tại nhà K H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng và Tổ A phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng đồng thời là người liên hệ, trao đổi về việc mua bán ma tuý, được nhận tiền lãi từ việc mua bán ma túy. L sau khi được N nhờ đã đồng ý cùng thực hiện với vai trò được phân công là đi giao khi có yêu cầu. Do đó cần phải xử lý một mức hình phạt tù tương ứng với hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo trong đó bị cáo N phải chịu mức án cao hơn bị cáo L. Đồng thời, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Nguyễn Văn N khai nhận bị cáo không có nghề nghiệp gì, trong một khoảng thời gian ngắn đã hơn 10 lần bán ma tuý cho nhiều người để làm nguồn sống chính. Bị cáo L cũng khai do bị cáo N vừa chấp hành án xong không xin được việc làm đề có tiền nuôi con nên bị cáo L đã giúp anh mình bán ma tuý để anh mình có iền nuôi con. Do đó, bị cáo N bị áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Bị cáo L không có tình tiết tăng nặng.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên cả hai bị cáo đều được hưởng tình tiết “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Ngay sau khi bị bắt bị cáo L đã tự khai ra các lần phạm tội trước đó nên được hưởng tình tiết “Người phạm tội tự thú” theo điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Do đó, HĐXX cần áp dụng các điểm r, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo L và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo L để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt khi HĐXX xem xét quyết định hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, qua kết quả xác minh của cơ quan điều tra thì các bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[6] Về xử lý vật chứng:
[6.1] Xét thấy vật chứng là: Tất cả ma tuý hoàn trả sau giám định gồm 0,136 gam mẫu tinh thể ký hiệu A và vỏ bao gói mẫu, 2,534 gam mẫu tinh thể ký hiệu A1a, 0,310 gam tinh thể ký hiệu A1b và vỏ bao gói, 3,541 gam mẫu tinh thể ký hiệu A2 và vỏ bao gói mẫu là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự để tịch thu tiêu hủy;
[6.2] Đối với 01 điện thoại di động hiệu IP 11 Promax, gắn sim 0934.962.931 thu giữ của N; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, gắn sim 0796787832 thu giữ của L, sử dụng vào việc liên lạc để mua bán ma túy. Những vật chứng này do bị cáo N, L sử dụng vào việc liên lạc và mua ma túy nên cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[6.3] Đối với 01 điện thoại di động hiệu IP 5s, gắn sim 0905.974.615 và 01 điện thoại di động IP 6s Plus gắn sim số 0345.261.090 thu giữ của B, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho B.
[6.4] Đối với 04 ống hút nhựa; 15 gói nilong kích thước (2,5 x 2,5)cm, chưa qua sử dụng; 01 cái kéo bằng kim loại màu trắng; 01 nỏ thủy tinh; 01 cân điện tử màu đen, kích thước (6,5 x 3,5)cm; 01 cuộn băng keo 02 mặt có giấy dán màu vàng đã qua sử dụng do N và L sử dụng vào việc mua bán ma túy không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy;
[6.5] Đối với xe mô tô hiệu Honda Airblade màu xanh đen, biển số 43C2-082.33 do anh Lê Hữu T đứng tên chủ sở hữu. Ngày 28/02/2024 anh T có bán xe lại cho bà Ngô Thị Thu H2. Ngày 12/3/2024, bà H2 đưa xe cho N mượn làm phương tiện đi lại, không biết việc N sử dụng vào việc phạm tội. Do vậy, ngày 04/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã trả xe lại cho bà H2 là có cơ sở nên HĐXX không xét.
[6.5] Đối với xe mô tô hiệu Damsel màu xanh, biển số 43H1-9421 do ông Nguyễn H3 đứng tên chủ sở hữu. Khoảng năm 2022 ông H3 có đưa xe cho ông Hoàng Anh T1 để sử dụng. Tối ngày 12/3/2024, ông T1 có đưa xe Tôn Thất Hoàng B mượn làm phương tiện đi lại, không biết việc B sử dụng vào việc đi mua ma túy. Do vậy, ngày 04/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã trả xe lại cho ông T1 là có cơ sở.
[7] Đối với việc Nguyễn Văn N khai nhận Nguyễn Thanh C là người mua giúp ma túy cho N. Hiện nay, C đã bỏ đi khỏi địa phương, không biết ở đâu, làm gì, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã ra thông báo truy tìm, tuy nhiên hết thời hạn điều tra vẫn chưa tìm được, chưa tiến hành lấy lời khai của C được. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an quận H tiếp tục điều tra xử lý sau là có cơ sở.
[8] Đối với Tôn Thất Hoàng B có hành vi mua ma túy của N về để sử dụng, tuy nhiên tại thời điểm bắt quả tang B chưa kịp nhặt gói ma túy, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm thấy. Do vậy, không đủ căn cứ để xử lý B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[9] Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của N, L, B, Cơ quan Công an quận H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật. Những người có hành vi bán và mua ma túy của N, hiện nay chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận H tiếp tục điều tra xử lý sau.
[10] Từ cuối tháng 2 năm 2024 đến ngày 12.3.2024: Nguyễn Văn N khai đã 10 lần bán trái phép ma túy cho nhiều người khác, thu lợi số tiền 11.500.000 đồng nên cần buộc bị cáo Nguyễn Văn N nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 11.500.000 đồng để sung quỹ nhà nước. Đồng thời khi bắt giữ bị cáo N đã thu giữ số tiền 5.000.000 đồng, bị cáo N khai đây là tiền do mua bán ma tuý có được nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[11] Từ những nhận định trên, xét thấy lời luận tội của Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng về tội danh và áp dụng các điều luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[12] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn L thực hiện hành vi phạm tội, bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm b, p, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 3 năm 2024.
2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 3 năm 2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2, khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy tất cả ma túy hoàn trả sau giám định gồm 0,136 gam mẫu tinh thể ký hiệu A và vỏ bao gói mẫu, 2,534 gam mẫu tinh thể ký hiệu A1a, 0,310 gam tinh thể ký hiệu A1b và vỏ bao gói, 3,541 gam mẫu tinh thể ký hiệu A2 và vỏ bao gói mẫu; 04 ống hút nhựa; 15 gói nilong kích thước (2,5 x 2,5)cm, chưa qua sử dụng; 01 cái kéo bằng kim loại màu trắng; 01 nỏ thủy tinh; 01 cân điện tử màu đen, kích thước (6,5 x 3,5)cm; 01 cuộn băng keo 02 mặt có giấy dán màu vàng đã qua sử dụng.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu IP 11 Promax, gắn sim 0934.962.931 thu giữ của N; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, gắn sim 0796787832 thu giữ của L và 5.000.000 đồng thu giữ của N.
- - Hoàn trả cho ông Tôn Thất Hoàng B 01 điện thoại di động hiệu IP 5s, gắn sim 0905.974.615 và 01 điện thoại di động IP 6s Plus gắn sim số 0345.261.090.
Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 9 năm 2024.
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 11.500.000 đồng (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.
4. Về án phí:
Căn cứ điểm a khoản 1 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo Nguyễn Văn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Ngọc Thùy |
12
Bản án số 138/2024/HSST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 138/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
