TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 138/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 9 - 2024 Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, Tranh chấp về cấp dưỡng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Hoàng Mỹ Dung
2. Ông Võ Trọng Văn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Tốt- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 326/2024/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 7 năm 2024; về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 285/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 207/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Bích C, sinh năm 2002. Nơi cư trú: đường C, tổ F, thôn G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Chổ ở hiện nay: Số nhà C, ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Anh Đỗ Thái C1, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Đường C, tổ F, thôn G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; vắng mặt bị đơn không có lý do chính đáng cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án nguyên đơn trình bày:
Chị Ngô Thị Bích C, anh Đỗ Thái C1 tự nguyện tìm hiểu tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn vào năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bỉnh Thuận. Sau khi kết hôn chị C, anh C1 chung sống hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyễn nhân là do anh C1 gia trưởng, thường xuyên ăn nhậu, lúc say xỉn về gây sự, đập phá tài sản và chưởi bới, đánh đập chị C nhiều lần. Nên chị C đã bỏ về nhà cha mẹ ruột tại huyện T, tỉnh Đồng Nai sinh sống cho đến nay. Hiện nay chị C không còn tình cảm với anh C1, nên đề nghị Toà án giải quyết ly hôn.
Chị C, anh C1 có một người con chung là Đỗ Ngô Minh K, sinh ngày 19/7/2021. Khi ly hôn chị C có nguyên vọng nuôi con và yêu cầu anh C1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng; Về tài sản chung, nợ chung chị C không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Đỗ Thái C1:
Sau khi thụ lý vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập nhưng đều không có ý kiến gửi Tòa án, cũng không tham gia làm việc. Do đó, tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại biên bản xác minh ngày 19/8/2024 (bút lục 26) thể hiện:
Anh Đỗ Thái C1 có đăng ký thường trú tại đường số C, tổ F, thôn G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn anh C1, chị C chung sống hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, cuống sống khó khăn nên vợ chồng thường xuyên cải vả nhau, thậm chí có lần say xỉn anh C1 có đánh chị C. Do đó mà chị C đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Hiện nay chị C, anh C1 không còn sống chung với nhau. Quá trình chung sống anh C1, chị C có một người con chung là Đỗ Ngô Minh K, sinh ngày sinh ngày 19/7/2021. Hiện tại cháu K đang sinh sống với chị C. Anh C1 làm nghề tự do, mỗi tháng thu nhập bình quân 5.000.000 đồng. Anh C1 biết việc chị C khởi kiện ly hôn, nhưng vì thương vợ và không muốn lý hôn nên anh C1 không đến Toà án làm việc.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
+ Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Ngô Thị Bích C được ly hôn với anh Đỗ Thái C1; giao con chung Đỗ Ngô Minh K, sinh ngày 19/7/2021 cho chị C và buộc anh C1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bị đơn anh Đỗ Thái C1 hiện thường trú tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận nên việc khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1, 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Chị Ngô Thị Bích C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, giải quyết quyền nuôi con và cấp dưỡng tiền nuôi con với bị đơn anh Đỗ Thái C1 nên quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng” được quy định tại các khoản 1, 5 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt bị đơn không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cũng không có lý do chính đáng. Vắng mặt nguyên đơn nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Chị Ngô Thị Bích C, anh Đỗ Thái C1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 16/12/2020, số 94 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn chị C, anh C1 chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Mặc dù các bên đã nhiều lần tự khuyên bảo, động viên nhau nhưng vẫn không có kết quả. Nên cả hai đã không còn sống chung với nhau và không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc gì nhau. Hiện nay chị C không còn tình cảm với anh C1 nên đề nghị giải quyết ly hôn. Bản thân anh C1, sau khi thụ lý vụ án mặc dù Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên họp, hòa giải đoàn tụ để các bên quay về chung sống với nhau nhưng không tham gia, không có ý kiến, điều đó chứng tỏ anh C1 cũng không còn tha thiết gì cuộc sống hôn nhân với chị C. Từ đó, có cơ sở xác định mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh C1 đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó nếu có tiếp tục chung sống sẽ không tạo dựng được hạnh phúc mà mâu thuẫn sẽ lại càng nghiêm trọng hơn. Nên, cần xử cho chị C được ly hôn với anh C1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Quá trình giải quyết vụ án chị C có nguyện vọng được quyền nuôi con Đỗ Ngô Minh K, sinh ngày 19/7/2021, trong khi anh C1 không có ý kiến gì. Việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng thì cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt và xem xét nguyện vọng của con cũng như điều kiện thực tế của người trực tiếp nuôi con. Kể từ thời điểm không còn sống chung đến nay cháu K do chị C trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời hiện nay cháu K còn quá nhỏ nên cần phải có người hiểu biết, trực tiếp chăm sóc, giáo dục. Để bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên về mọi mặt cần giao con cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
[6] Qúa trình làm việc chị C có yêu cầu anh C1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con là 2000.000 đồng/tháng.
Khoản 1 Điều 82 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”.
Khoản 1 Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của luật này...”
Do đó, yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con của chị C là có căn cứ, bởi lẽ chị C là người trực tiếp nuôi con, nên anh C1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng 2000.000 đồng/tháng mà chị C đưa ra phù hợp với mức thu nhập, mức sống tại địa phương, cũng như nhu cầu hiện tại của con, nên chấp nhận
[7] Các bên không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét.
[8] Chị C phải chịu án phí ly hôn, anh C1 phải chịu án phí cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định.
[9] Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Các khoản 1, 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 146, khoản 4 Điều 147, Điều 203, khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84, khoản 1 Điều 107, Điều 110, khoản 1 Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị Bích C.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Bích C được ly hôn với anh Đỗ Thái C1.
Giấy chứng nhận kết hôn đăng ký ngày 16/12/2020, số 94 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận hết hiệu lực, kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao cho chị Ngô Thị Bích C được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục người con chung Đỗ Ngô Minh K, sinh ngày 19/7/2021.
Anh C1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Trường hợp anh C1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị C có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh C1.
Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về cấp dưỡng: Anh Đỗ Thái C1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con Đỗ Ngô Minh K, sinh ngày 19/7/2021 cho chị Ngô Thị Bích C mỗi tháng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Chị C có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án ngay, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chấm dứt khi phát sinh trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Chị Ngô Thị Bích C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sung công quỹ Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004718, ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Anh Đỗ Thái C1 phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đình Trường |
Bản án số 138/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng
- Số bản án: 138/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, Tranh chấp về cấp dưỡng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị Bích Châm-Đỗ Thái Công
