|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 138/2024/HS-ST Ngày 30-08 – 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Chiều
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải
2. Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Hoàng Văn Q; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 21/6/1981 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Q, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Hoàng Văn G (đã chết), con bà: Vũ Thị A (sinh năm 1951); Có vợ: Lý Thị T, sinh năm 1985 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 0105934/QĐ-XPHC ngày 06/6/2019 của Công an thành phố P xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, bị cáo đã nộp phạt ngày 07/6/2019; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/02/2024 đến ngày 16/02/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ”, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
2. Hoàng Văn T1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 02/6/1986 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Q, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Hoàng Văn K (đã chết), con bà: Lý Thị L (sinh năm 1958); Có vợ: Lâm Thị B, sinh năm 1987; Vợ chồng có 02 con chung, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/02/2024 đến ngày 16/02/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ”, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
3. Lâm Văn H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 27/02/1981 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: xóm H, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Là Đảng viên Đ1 sinh hoạt tại Chi bộ xóm H, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên hiện đã bị Đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định đình chỉ sinh hoạt Đảng số 155-QĐ/UBKTTU ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Ủy ban kiểm tra Thành ủy P; Con ông: Lâm Kim N (đã chết), con bà: Phạm Thị B1 (sinh năm 1960); Có vợ: Lục Thị L1, sinh năm 1979 và có 03 con chung, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/02/2024 đến ngày 16/02/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ”, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
4. Lâm Quyết H1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 14/10/1990 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Q, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Lâm Quyết B2 (sinh năm 1969), con bà: Liễu Thị T2 (sinh năm 1970); Có vợ: Lý Thị M, sinh năm 1994 và có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/02/2024 đến ngày 16/02/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ”, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
5. Lâm Văn T3; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 30/9/1990 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Q, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Lâm Văn L2 (sinh năm 1971), con bà: Đặng Thị M1 (sinh năm 1970); Có vợ: Lê Thị T4, sinh năm 1994 và có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/02/2024 đến ngày 16/02/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ”, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
6. Đỗ Hải V; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04/5/1984 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Q, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Đỗ Văn L3 (sinh năm 1959), con bà: Ôn Thị H2 (sinh năm 1959); Có vợ: Lâm Thị T5, sinh năm 1987 và có 02 con chung, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/02/2024 đến ngày 16/02/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ”, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
7. Đào Đăng L4; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 02/5/1990 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Q, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông: Đào Xuân V1 (sinh năm 1957), con bà: Lưu Thị S (sinh năm 1956); Có vợ: Lý Thị D, sinh năm 1991 và có 02 con chung, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/02/2024 đến ngày 16/02/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ”, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
8. Lâm Văn T6; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 13/9/1974 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Q, xã P, thành phố P, Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Là Đảng viên Đ1 sinh hoạt tại Chi bộ Hợp tác xã dịch vụ điện xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên hiện đã bị Đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định đình chỉ sinh hoạt Đảng số 154/QĐ/UBKTTU ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Ủy ban kiểm tra Thành ủy P; Con ông: Lâm Văn V2 (đã chết), con bà: Mạch Thị S1 (sinh năm 1950); Có vợ: Lục Thị V3, sinh năm 1976 và có 03 con chung, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/02/2024 đến ngày 16/02/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ”, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Hoàng Văn T7, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Xóm Q, xã P, thành phố P, Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Anh Lý Văn L5, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Xóm Q, xã P, thành phố P, Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Ôn Minh L6, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Xóm Q, xã P, thành phố P, Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 35 phút ngày 13/02/2024, tổ công tác của Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố P phát hiện bên trong Đình làng thuộc xóm Q, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên có 08 đối tượng đang đánh bạc bằng hình thức đánh “Ba cây” được thua bằng tiền, gồm: Hoàng Văn Q, Hoàng Văn T1, Lâm Văn T3, Lâm Quyết H1, Lâm Văn H, Đỗ Hải V, Đào Đăng L4 và Lâm Văn T6. Vật chứng thu giữ: 9.100.000 đồng (niêm phong ký hiệu T) và 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân bài từ A đến 9 trên chiếu bạc, 01 (một) chiếu nhựa đã qua sử dụng. Quá trình kiểm tra, tổ công tác còn tạm giữ: 2.340.000 đồng tiền mặt trên người Hoàng Văn Q, 4.600.000 đồng tiền mặt trên người Hoàng Văn T1 và 2.300.000 đồng tiền mặt trên người Lâm Văn T6. Sau đó tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người đối với 08 đối tượng trên, tạm giữ, niêm phong vật chứng theo quy định
Tại bản Kết luận giám định số 379 ngày 29/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Số tiền gửi giám định trong phong bì ký hiệu T là “thật”
Quá trình điều tra Hoàng Văn Q, Hoàng Văn T1, Lâm Văn T3, Lâm Quyết H1, Lâm Văn H, Đỗ Hải V, Đào Đăng L4 và Lâm Văn T6 khai nhận: Do hôm sau làng có Hội đình nên Q, T1, T3, H1, H, V, L4, T6 được phân công phục vụ cho Lễ Hội. Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 13/02/2024, các đối tượng tập trung để chuẩn bị đồ nấu ăn cho hội Đình làng thì tất cả cùng rủ nhau chơi đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Ba cây” được thua bằng tiền. Các đối tượng đến góc phải của Đ làng thấy chiếu đã dải sẵn từ chiều và có 01 bộ bài tú lơ khơ ở đó nên cùng ngồi xuống đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Hoàng Văn Q bỏ ra 2.800.000 đồng, Hoàng Văn T1 bỏ ra 1.500.000 đồng, Lâm Văn T3 bỏ ra 400.000 đồng, Lâm Quyết H1 bỏ ra 600.000 đồng, Lâm Văn H bỏ ra 1.800.000 đồng, Đỗ Hải V bỏ ra 200.000 đồng, Đào Đăng L4 bỏ ra 1.300.000 đồng đánh bạc, Lâm Văn T6 bỏ ra 500.000 đồng để đánh bạc. Về hình thức đánh “Ba cây” được các đối tượng quy ước như sau: Bộ bài lá gồm 52 quân bài sau khi loại bỏ các quân bài từ 10 đến K còn 36 quân bài từ A (được tính là 1) đến 9. Số quân bài trên được trộn đều và chia cho mỗi người tham gia đánh bạc 03 lá bài, những người tham gia đánh bạc sau khi được chia bài sẽ tính tổng số điểm trên 03 lá bài của mình rồi lấy số hàng đơn vị để phân định thắng thua. Nếu được điểm tròn chục như 10, 20 thì tính là 10 điểm. Người có số điểm cao hơn là người giành phần thắng. Mỗi ván các đối tượng quy ước “Chống cửa” (số tiền tối thiểu mỗi người chơi được đặt cược trên một ván) là 20.000 đồng. Nếu người cầm chương (là người chia bài) thắng sẽ được toàn bộ số tiền của người chơi đặt cược. Nếu người chơi có số điểm cao hơn người cầm chương thì người cầm chương phải trả cho người đó số tiền bằng với số tiền người đó đặt cược. Nếu người cầm chương có số điểm là 10 điểm thì những người chơi phải trả cho người cầm chương số tiền gấp đôi số tiền đặt cược và ngược lại nếu người chơi có số điểm là 10 điểm thì người cầm chương phải trả gấp đôi số tiền cho người thắng đã đặt cược. Nếu hai người bằng điểm nhau thì phân định thắng thua theo chất của quân bài theo thứ tự từ Rô>Cơ>Tép>Bích. Khi các đối tượng đánh bạc thì có anh Hoàng Văn T7 (sinh năm 1989) và anh Lý Văn L5 (sinh năm 1987) cùng trú tại xóm Q, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên ngồi xem. Các đối tượng cùng nhau đánh bạc đến 23 giờ 35 phút cùng ngày thì bị tổ công tác của Đ2 Công an thành phố P phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên. Đối với số tiền đã tạm giữ trên người Q, T1 và T6 không sử dụng vào việc đánh bạc. Lời khai nhận của Hoàng Văn Q, Hoàng Văn T1, Lâm Văn T3, Lâm Quyết H1, Lâm Văn H, Đỗ Hải V, Đào Đăng L4 và Lâm Văn T6 phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc bằng hình thức đánh “Ba cây” là 9.100.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân bài từ A đến 9 được niêm phong trong bì ký hiệu B; 01 (một) chiếu nhựa đã qua sử dụng; Số tiền 18.340.000 đồng tiền Ngân hàng N1 được chuyển đến tài khoản và kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản Cáo trạng số: 81/CT-VKSPY ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn Q, Hoàng Văn T1, Lâm Văn T3, Lâm Quyết H1, Lâm Văn H, Đỗ Hải V, Đào Đăng L4 và Lâm Văn T6 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng số: 65/CT-VKSPY ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- 1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn Q, Hoàng Văn T1, Lâm Văn T3, Lâm Quyết H1, Lâm Văn H, Đỗ Hải V, Đào Đăng L4 và Lâm Văn T6 phạm tội “Đánh bạc”
-
2. Về hình phạt:
- * Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- - Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 - 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Đề nghị xử phạt bị cáo Đào Đăng L4 mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12-18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn T1 mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 - 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Đề nghị xử phạt bị cáo Lâm Văn T3 mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 - 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- * Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự.
- - Đề nghị xử phạt bị cáo Lâm Văn H 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- - Đề nghị xử phạt bị cáo Lâm Quyết H1 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- - Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Hải V 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- - Đề nghị xử phạt bị cáo Lâm Văn T6 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
-
3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự;
Phạt tiền các bị cáo Hoàng Văn Q, Hoàng Văn T1, Lâm Văn T3, Đào Đăng L4 mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng nộp Ngân sách Nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Lâm Văn H, Lâm Quyết H1, Đỗ Hải V và Lâm Văn T6.
-
4. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân bài từ A đến 9 được niêm phong trong bì ký hiệu B; 01 (một) chiếu nhựa đã qua sử dụng
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 9.100.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc
- - Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn Q số tiền 2,300,000 đồng; trả cho bị cáo Hoàng Văn T1 số tiền 4,600,000 đồng; trả cho bị cáo Lâm Văn T6 số tiền 2,300,000 đồng. Tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
-
5. Về án phí và quyền kháng cáo: đề nghị áp dụng Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ -UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với các bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt đề nghị áp dụng.
Nói lời sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất, được cải tạo tại địa phương để thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do hôm sau làng có hội Đình làng thuộc xóm Q, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên nên nhóm Q, T1, T3, H1, H, V, L4, T6 được phân công phục vụ cho Lễ Hội. Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 13/02/2024, các đối tượng tập trung để chuẩn bị đồ nấu ăn cho hội Đình làng thì tất cả cùng rủ nhau chơi đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Ba cây” được thua bằng tiền trong khoảng thời gian từ 22 giờ 50 phút đến 23 giờ 35 phút ngày 13/02/2024 thì bị tổ công tác của Đ2 Công an thành phố P phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 9.100.000 đồng.
Hành vi, ý thức của các bị cáo Hoàng Văn Q, Hoàng Văn T1, Lâm Văn T3, Lâm Quyết H1, Lâm Văn H, Đỗ Hải V, Đào Đăng L4 và Lâm Văn T6 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, bản Cáo trạng số: 81/CT-VKSPY ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ..., thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội ít nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự công cộng do Nhà nước quản lý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do các bị cáo hám lời, muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy:
4.1. Về nhân thân: Các bị cáo Hoàng Văn T1, Lâm Văn T3, Lâm Quyết H1, Lâm Văn H, Đỗ Hải V, Đào Đăng L4 và Lâm Văn T6 không có tiền án, tiền sự là người có nhân thân tốt.
Đối với bị cáo Hoàng Văn Q, bị cáo đã từng bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” vào năm 2019, cụ thể: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 0105934/QĐ-XPHC ngày 06/6/2019 của Công an thành phố P xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, bị cáo đã nộp phạt ngày 07/6/2019. Tuy nhiên, đối chiếu theo quy định tại Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính bị cáo đã được coi là chưa bị xử lý vi phạm theo quy định
4.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đồng thời các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
4.3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
4.4. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo Hoàng Văn Q, Hoàng Văn T1, Lâm Văn T3, Lâm Quyết H1, Lâm Văn H, Đỗ Hải V, Đào Đăng L4 và Lâm Văn T6 cố ý cùng thực hiện một tội phạm nên là đồng phạm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự, nhưng là đồng phạm giản đơn, bởi hành vi của các bị cáo là bột phát, không có sự câu kết chặt chẽ với nhau giữa những người thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, để đảm bảo phân hóa trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Hoàng Văn Q, Hoàng Văn T1, Đào Đăng L4 tham gia đánh bạc số tiền nhiều hơn các bị cáo khác, Lâm Văn T3 tham gia đánh bạc tích cực từ đầu cho đến khi bị bắt nên có vai trò cao hơn các bị cáo khác, bị cáo Lâm Văn H mặc dù vào sau (theo H khai đánh được 04 ván thì bị bắt) nhưng sử dụng số tiền đánh bạc nhiều hơn các bị cáo H1, V, T6 nên các bị cáo có vai trò thứ hai, các bị cáo H1, V, T6 sử dụng số tiền đánh bạc ít và vào sau nên có vai trò thứ ba trong vụ án .
[5]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Các bị cáo Hoàng Văn Q, Hoàng Văn T1, Lâm Văn T3, Đào Đăng L4 và Lâm Văn T6 là người không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được cải tạo tại địa phương không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn, xã hội tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận lời thỉnh cầu của các bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên áp dụng tại điểm đ khoản 1 Điều 3, Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết: 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết: 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự ngày 23 tháng 3 năm 2022 cho các bị cáo Q, T1, T3, L4 được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục các bị cáo thành công dân tốt và có ích cho xã hội.
Các bị cáo Lâm Quyết H1, Lâm Văn H, Đỗ Hải V và Lâm Văn T6 vai trò thấp hơn các bị cáo khác nên Áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự phạt tiền các bị cáo H, H1, V, T6 là hình phạt chính cũng đủ tác dụng răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung
Xét quan điểm về việc giải quyết vụ án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp được chấp nhận.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định: “3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Xét thấy, các bị cáo Q, L4, T1, T3 phạm tội nhằm mục đích vụ lợi nên ngoài hình phạt chính cần thiết phải áp dụng thêm hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo để nộp Ngân sách Nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo H, H1, V, T6 do các bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 33 Bộ luật Hình sự.
[7]. Về biện pháp tư pháp:
Đối với 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân bài từ A đến 9 được niêm phong trong bì ký hiệu B; 01 (một) chiếu nhựa đã qua sử dụng – Quá trình điều tra xác định những vật chứng này là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy
Đối với số tiền 9.100.000 đồng, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước
Đối với số tiền 2,300,000 đồng thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Văn Q; số tiền 4,600,000 đồng thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Văn T1 và số tiền 2,300,000 đồng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Lâm Văn T6, xét thấy các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo quản lý sử dụng. Tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án
[8]. Về chi phí tố tụng và quyền kháng cáo: Các bị cáo Hoàng Văn Q, Hoàng Văn T1, Lâm Văn T3, Lâm Quyết H1, Lâm Văn H, Đỗ Hải V, Đào Đăng L4 và Lâm Văn T6 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 17, Điều 46, Điều 47, Điều 48; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Hoàng Văn Q, Hoàng Văn T1, Lâm Văn T3, Đào Đăng L4.
Căn cứ khoản 1, Điều 321; Điều 17, Điều 46, Điều 47, Điều 48; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Lâm Quyết H1, Lâm Văn H, Đỗ Hải V và Lâm Văn T6
Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số: 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Căn cứ Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 23/03/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết: 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q, Hoàng Văn T1, Lâm Văn T3, Lâm Quyết H1, Lâm Văn H, Đỗ Hải V, Đào Đăng L4 và Lâm Văn T6 phạm tội “Đánh bạc"
2. Về hình phạt:
2.1 Hình phạt chính:
- - Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt bị cáo Đào Đăng L4 07 (bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T1 07 (bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt bị cáo Lâm Văn T3 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt bị cáo Lâm Văn H 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước
- - Xử phạt bị cáo Lâm Quyết H1 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước
- - Xử phạt bị cáo Đỗ Hải V 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước
- - Xử phạt bị cáo Lâm Văn T6 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước
Giao các bị cáo Hoàng Văn Q, Hoàng Văn T1, Lâm Văn T3, Đào Đăng L4 cho Ủy ban nhân dân xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo
2.2 Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung các bị cáo Hoàng Văn Q, Hoàng Văn T1, Lâm Văn T3, Đào Đăng L4 mỗi bị cáo 10.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo H, H1, V, T6.
3. Về biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân bài từ A đến 9 được niêm phong trong bì ký hiệu B; 01 (một) chiếu nhựa đã qua sử dụng
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 9.100.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc
- - Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn Q số tiền 2.300.000 đồng; trả cho bị cáo Hoàng Văn T1 số tiền 4.600.000 đồng; trả cho bị cáo Lâm Văn T6 số tiền 2.300.000 đồng. Tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần hình phạt bổ sung.
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố P với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 18/06/2024 và ủy nhiệm chi số 159 ngày 30 tháng 05 năm 2024
4. Về chi phí tố tụng: Các bị cáo Hoàng Văn Q, Hoàng Văn T1, Lâm Văn T3, Lâm Quyết H1, Lâm Văn H, Đỗ Hải V, Đào Đăng L4 và Lâm Văn T6 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định vào ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Hoàng Văn Q, Hoàng Văn T1, Lâm Văn T3, Lâm Quyết H1, Lâm Văn H, Đỗ Hải V, Đào Đăng L4 và Lâm Văn T6 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hải Chiều |
Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về đánh bạc
- Số bản án: 138/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Q cùng đồng phạm phạm tội Đánh bạc
