Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỘC CHÂU

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2024/HS-ST

Ngày 17-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Long Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cầm Thị Đoa và ông Lò Việt Huấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Mộc châu.

Chuyên viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu: Bà Hà Phương Nhung.

Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu: Bà Nguyễn Thùy Linh

Cán bộ, Chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ngần T, Hà Văn C.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 145/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 143/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lường Văn T, sinh ngày: 06/3/2005 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi thường trú: Bản N, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La; tạm trú: T, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lường Văn B và bà Mùi Thị Đ; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2024 đến nay, tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần, có mặt.

2. Mùi Văn T1, sinh ngày: 05/02/2006 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi thường trú: Bản N, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La; tạm trú: T, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Mùi Văn N1 và bà Mùi Thị D; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2024 đến nay, tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Ông Lường Văn B, sinh năm: 1983, nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La. Tham gia phiên toà tại điểm cầu trung tâm, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ ngày 08/4/2024 tổ công tác Công an huyện M làm nhiệm vụ tại T, thị trấn Nông Trường M tiến hành kiểm tra đối với Lường Văn T đang điều khiển xe mô tô BKS: 26AA-029.27 chở phía sau Mùi Văn T1. Qua kiểm tra phát hiện T1 đang cầm trong bàn tay phải 01 gói giấy màu trắng đựng 10 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine. T, T1 khai nhận đó là M của T và T1 cùng nhau góp tiền đi mua mang về để cùng nhau sử dụng. Căn cứ hành vi vi phạm của Lường Văn T và Mùi Văn T1, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng, tạm giữ 01 chiếc xe mô tô BKS: 26AA-029.27 và dẫn giải Lường Văn T và Mùi Văn T1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M để điều tra, làm rõ.

Ngày 08/4/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành xác định khối lượng 10 viên nén màu hồng thu giữ của Lường Văn T và Mùi Văn T1 được 0,96 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,45 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu T2

Tại Kết luận giám định số 890 ngày 12/4/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,45 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,96 gam; loại Methamphetamine.”

Quá trình điều tra Lường Văn T và Mùi Văn T1 khai nhận: Bản thân đều nghiện chất ma túy và cùng đi làm thuê tại thị trấn Nông Trường M. Khoảng 18 giờ ngày 08/4/2024 T rủ T1 mỗi người góp 250.000 đồng đi mua ma túy mang về sử dụng, T1 đồng ý, do T1 chưa có tiền nên T bỏ ra trước số tiền 500.000 đồng. T điều khiển xe mô tô BKS: 26AA-029.27 chở T1 đi đến thị trấn M tìm mua ma túy mang về sử dụng. Khi đi đến đoạn đường dân sinh tiểu khu F, thị trấn M, T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết 10 viên hồng phiến được gói bằng mảnh giấy màu trắng với giá 500.000 đồng, T đưa tiền cho người đàn ông bán ma túy, người đó đưa gói ma túy cho T1. Sau khi mua được ma túy, T điều khiển xe mô tô chở T1 cầm gói ma túy đi về, trên đường về đến T, thị trấn Nông Trường M thì gặp tổ công tác Công an huyện M kiểm tra, phát hiện, thu giữ.

Tại phiên tòa các bị cáo Lường Văn T, Mùi Văn T1 trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lường Văn B trình bày: Chiếc xe mô tô BKS: 26AA-029.27 là tài sản của ông B mua lại ở cửa hàng xe máy cũ ở thị trấn M với giá 10.000.000 đồng, ông B cho Lường Văn T mượn để đi làm thuê từ cuối năm 2023 đến nay, ông đã nhận lại chiếc xe và không yêu cầu gì thêm.

Cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố các bị can Lường Văn T, Mùi Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lường Văn T, Mùi Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 ; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Lường Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 ; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Mùi Văn T1 từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giao trả xe máy nhãn hiệu SANDA BOS, màu nâu trắng, BKS: 26AA-029.27 cho Lường Văn Bằng quản lý, sử dụng.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ còn lại vụ Lường Văn T + Mùi Văn T1 (05 viên nén màu hồng = 0,51 gam Methamphetamine; mảnh giấy và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Lường Văn T; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Mùi Văn T1.

  4. Các bị cáo được miễn phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo Lường Văn T, Mùi Văn T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an huyện M thu giữ của các bị cáo vào ngày 08/4/2024 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông với giá 500.000 đồng, mục đích để cùng nhau sử dụng. Lời khai của các bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huyện M lập vào hồi 19 giờ 10 phút ngày 08/4/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản kết luận giám định số 890 ngày 12/4/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,45 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,96 gam; loại Methamphetamine.” Methamphetamine nằm trong danh mục II, mục IIC, số thứ tự 247 tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Lường Văn T, Mùi Văn T1 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 08/4/2024 các bị cáo Lường Văn T, Mùi Văn T1 đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,96 gam Methamphetaminee nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của các bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của các các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Phân hoá vai trò phạm tội: Bị cáo Lường Văn T là người khởi xướng việc đi mua ma tuý cung cấp tiền, trực tiếp trao đổi mua ma tuý và sử dụng phương tiện để đi mua ma tuý; Mùi Văn T1 là người cùng bàn bạc đồng ý góp tiền đi mua ma tuý và trực tiếp cất giấu số ma túy. Các bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm, phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm theo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự, do đó khi quyết định hình phạt cần căn cứ Điều 58 Bộ luật hình sự xem xét tính chất của đồng phạm, tính chất mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cái đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng đối với các bị cáo.

Về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo là người có nhân thân xấu, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý và là đối tượng nghiện hút chất ma túy. Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

[4] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu SANDA BOS, màu nâu trắng, BKS: 26AA-029.27 là tài sản hợp pháp của ông Hà Văn B1 việc Lường Văn T sử dụng xe máy đi mua ma túy, ông Lường Văn B không biết và không liên quan, ngày 20/5/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giao trả xe máy trên cho ông L1 Văn Bằng quản lý, sử dụng, xét thấy là phù hợp khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần ghi nhận.

Đối với 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ còn lại vụ Lường Văn T + Mùi Văn T1 (05 viên nén màu hồng = 0,51 gam Methamphetamine; mảnh giấy và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Lường Văn T; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Mùi Văn T1, xét thấy là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, không có giá trị sử dụng. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về án phí: Tại phiên tòa, bị cáo Lường Văn T và Mùi Văn T1 đều có yêu cầu xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Xét thấy các bị cáo Lường Văn T và Mùi Văn T1 là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo Mùi Văn T1 gia đình thuộc hộ cận nghèo, nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho các bị cáo tại tiểu khu F, thị trấn M, huyện M. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Thời hạn tạm giam của các bị cáo dưới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự

    Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Lường Văn T 27 (Hai mươi bảy) tháng tù.

    Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 08/4/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự

    Tuyên bố bị cáo Mùi Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Mùi Văn T1 24 (hai mươi tư) tháng tù.

    Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 08/4/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Ghi nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giao trả 01 xe máy nhãn hiệu SANDA BOS, màu nâu trắng, BKS: 26AA-029.27 cho Lường Văn Bằng quản lý, sử dụng.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ còn lại vụ Lường Văn T + Mùi Văn T1 (05 viên nén màu hồng = 0,51 gam Methamphetamine; mảnh giấy và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Lường Văn T; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Mùi Văn T1.

  4. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo Lường Văn T, Mùi Văn T1.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/6/2024).

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Sơn La;
  • - Viện KSND huyện Mộc Châu;
  • - Công an huyện Mộc Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Mộc Châu;
  • - Trại giam;
  • - THA HS;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La (khi án có hiệu lực);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lương Long Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 138/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lường Văn T và Mùi Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger