Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 138/2024/HS-ST

Ngày: 11/7/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hải

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trương Thị Thái (Giáo viên nghỉ hưu)
  2. Ông Hoàng Văn Long

Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Phương Thảo - Thư ký TAND huyện Thanh Trì

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà:

Bà Mai Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 128/2024/HSST ngày 04/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXX-HSST ngày 25/6/2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN ĐỨC Đ, sinh năm 1968; giới tính: Nam; ĐKHK và ở tại: thôn N, xã Đ, huyện T, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hoá: 7/10; con ông Nguyễn Đức G (c); con bà Nguyễn Thị G1 (c); Vợ là Lê Thị N; có 03 con sinh các năm 1993, 1997, 2003; D chỉ bản: 000000200, lập ngày 29/3/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: không; Vụ án này, bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an Thành phố H; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: cháu Nguyễn Thu H, sinh ngày 16/01/2014; nơi ở: Đ, thôn N, xã Đ, huyện T, Thành phố Hà Nội. (vắng mặt)

Đại diện hợp pháp cho cháu H: ông Nguyễn Xuân H1 (bố đẻ cháu H) và bà Đào Thị T (mẹ đẻ cháu H); Cùng ở tại: Đ, thôn N, xã Đ, huyện T, Thành phố Hà Nội. (cùng có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu H: bà Đinh Thị Phương M – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp pháp lý Thành phố H - Chi nhánh S. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19h00 ngày 21/3/2024, Nguyễn Đức Đ điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Dream màu nâu (Đ không nhớ BKS) đến nhà anh Nguyễn Xuân H1 ở thôn N, xã Đ (cách nhà Đ khoảng 500m) để gọi anh H1 đến nhà Đ uống nước. Khi đến nơi, Đ gọi to: “Hiếu ơi” nhưng anh H1 không trả lời, chỉ có cháu là Nguyễn Thu H là con anh H1 ra mở cổng và nói anh H1 đang ngủ. Đ nói với cháu H: “Đi ra nhà bác chơi, bác cho hộp bánh”, cháu H đồng ý và ngồi lên xe máy do Đ điều khiển đi về nhà Đ. Khi về đến cổng nhà, Đại dựng xe máy ở ngoài vỉa hè rồi bảo cháu H đi vào nhà. Đại khoá cổng lại bằng khoá có sẵn ở cổng rồi bảo cháu H đi vào trong nhà. Khi vào đến trong nhà, Đại khép cánh cửa nhôm kính lại, không khoá vì nhà không có ai và bảo cháu H ngồi chơi ở ghế và ăn bánh. Đ ngồi ở ghế cạnh đó và nói chuyện với cháu H. Đ chỉ lên bức tranh tường phòng khách và hỏi cháu H: “bức tranh có đẹp không?”; Cháu H trả lời là “đẹp”; Đ bảo cháu H: “đi lên trên này bác cho hộp bánh” rồi dẫn cháu H đi lên tầng hai nhà Đ. Cháu H đi theo sau Đ đi lên tầng hai vào phòng của Đ ở bên trái cầu thang. Đại bật đèn lên và ngồi xuống giường. Đ bảo cháu H ngồi xuống cạnh Đ, nhưng cháu H chỉ tiến lại gần Đ mà không ngồi xuống giường. Đ ngồi trước mặt cháu H luồn 2 tay vào bên trong áo phông cộc tay của cháu H và sờ trực tiếp vào hai bên vú cháu H và nói: “dạo này mày béo thể”. Cháu H khi đó mặc áo phông có cổ màu da cam ngắn tay, quần vải màu đen có sọc màu da cam, không mặc áo ngực, hai tay Đ trực tiếp tiếp xúc với vùng ngực (bên trong áo) hai bên cháu H, Đ thấy ngực cháu bé chưa phát triển, hai đầu ti còn bé. Sau đó Đ đứng dậy, bế nhấc bổng cháu H lên và nói với cháu H “mày nặng gần bằng bác” rồi thả xuống. Sau đó cháu H ngồi xuống giường của Đ, Đ cũng ngồi xuống bên cạnh (bên phải cháu bé) và đặt tay phải của mình lên đùi trong cháu H (phía bên ngoài quần cháu H) khoảng 30 giây. Cháu H không có phản ứng gì. Đ tiếp tục dùng 2 tay sờ mông cháu H qua lớp quần một lúc rồi bảo cháu H đi lên đây bác cho hộp bánh. Đ đưa cháu lên phòng thờ tầng ba, cháu H đứng chờ ở ngoài, Đ đi vào ban thờ lấy một hộp bánh và 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) tiền đặt lễ (một tờ mệnh giá 10.000 đồng, hai tờ mệnh giá 5.000 đồng) rồi đưa cho cháu H. Sau đó, Đ đi trước còn cháu H theo sau đi xuống tầng một. Tại đây, Đ rủ cháu H đi ăn phở, nhưng cháu H không đi và đòi về, Đ mở cửa, đưa cháu ngồi lên xe máy và chở cháu H về nhà. Khi đến nhà, cháu H đi vào nhà, Đ cũng đi vào gặp anh H1. Đ nói chuyện với anh H1 một lát rồi đi về.

Khoảng 10h30 hôm sau, ngày 22/03/2024, sau khi nghe cháu H kể lại sự việc thì chị Đào Thị T là mẹ của cháu H lên Cơ quan công an trình báo.

Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an huyện T tạm giữ của cháu Nguyễn Thu H:

  • 01 áo cộc tay màu cam, cổ màu xanh;
  • 01 quần dài màu xanh đen, sọc mà cam, loại quần nỉ;
  • 02 tờ tiền mệnh giá 5000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng;
  • 01 hộp bánh nhãn hiệu Tipo màu vàng nhạt đã bóc.

Tạm giữ của chị Lê Thị N là vợ của Nguyễn Đức Đại tự n giao nộp: 03 thẻ nhớ màu đen liên quan đến vụ án gồm: 01 thẻ nhớ tại camera phòng khách tầng 1; 01 01 thẻ nhớ tại camera sau nhà; 01 thẻ nhớ tại camera trước cổng;

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y tình dục và AND đối với Nguyễn Thu H và Quyết định nghi can xâm hại tình dục đối với Nguyễn Đức Đ.

Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 497/KLTDTE- TTPY ngày 19/04/2024 của Trung tâm H đối với cháu Nguyễn Thu H.

  • Tại thời điểm giám định, trên cơ thể Nguyễn Thu H không có vết sây sát sưng nề bầm tím, không có vết rách da chảy máu, do vậy không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
  • Tại thời điểm giám định màng trinh: Không có vết rách mới và cũ, không có vết sây sát sưng nề bầm tím, lỗ màng trinh không giãn.
  • Xét nghiệm Anti HIV, HBsAg của Nguyễn Thu H: Âm tính.

Kết luận giám định ADN số 85/24/KLGDADN-PYHN ngày 19/4/2024 của Trung tâm P: Không thu được ADN của Nguyễn Đức Đại từ mẫu lau rửa bộ phận sinh dục ngoài và mẫu lau rửa vùng ngực của Nguyễn Thu H trên các locus Y-STR đã phân tích.

Kết luận giám định nghi can xâm hại tình dục số 453/KLNCXH- TTPY ngày 11/4/2024 của Trung tâm P kết luận đối với Nguyễn Đức Đ:

  • Tại thời điểm giám định trên cơ thể Nguyễn Đức Đ không có vết sây sát sưng nề bầm tím, không có vết rách da chảy máu, nên không có tỷ lệ tổn thương cơ thể và cơ chế hình thành thương tích.
  • Tại thời điểm giám định bộ phận sinh dục ngoài của Nguyễn Đức Đ phát triển bình thường, không có thương tích.
  • Xét nghiệm HIV, HBsAg của Nguyễn Đức Đ: Âm tính.

Quá trình điều tra, Nguyễn Đức Đ đã khai nhận hành vi dùng tay sờ, tiếp xúc trực tiếp vào hai vú của cháu H và sờ vào đùi và mông của cháu H (qua lớp quần). Mục đích Đ dùng tay sờ vào ngực, đùi, mông của cháu H vì thích cháu H và để giải tỏa nhu cầu sinh lý chứ không có mục đích giao cấu. Đây là lần đầu Đ có hành vi dâm ô đối với cháu H.

Cháu Nguyễn Thu H khai ngoài các hành vi như Nguyễn Đức Đ đã khai, Đ còn có hành vi ôm eo cháu H và dùng tay đè cháu H nằm xuống giường nhưng do cháu H gồng người nên Đ không đè cháu H xuống giường được.

Lời khai của Đ và cháu H có một số điểm mâu thuẫn, Cơ quan điều tra yêu cầu cháu H tham gia đối chất với Đ, nhưng cháu H và gia đình đã từ chối đối chất với Đ nên không có căn cứ kết luận.

Về dân sự: Chị Đào Thị T là mẹ đẻ cháu Nguyễn Thu H có đơn yêu cầu Nguyễn Đức Đ phải bồi thường về thể chất, tinh thần cho cháu H số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

Tại bản cáo trạng số 134/CT-VKS-TT ngày 31/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố Nguyễn Đức Đ phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 146 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Đức Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố, thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo xin tự nguyện sẽ bồi thường cho cháu H số tiền 50 triệu đồng.

Đại diện hợp pháp cho người bị hại yêu cầu xử lý nghiêm bị cáo và đồng ý với mức bồi thường thiệt hại 50 triệu đồng do bị cáo tự nguyện sẽ bồi thường.

Người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại có ý kiến: Nhất trí với bản Cáo trạng và nội dung bài luận tội đối với bị cáo Đ của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, nhưng mức hình phạt theo đề xuất của Viện kiểm sát còn chưa thỏa đáng nên đề nghị Hội đồng xét xử xử nghiêm minh đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử ấn định thời hạn Bồi thường thiệt hại để đảm bảo quyền lợi cho người bị hại.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Đức Đ theo tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản Cáo trạng số 134/CT-VKS-TT ngày 31/5/2024 và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 146; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Đ với mức án từ 10 tháng tù đến 14 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng: Trả lại cháu H 01 áo cộc tay màu cam cổ màu xanh. 01 quần dài nỉ màu xanh đen sọc mà cam; Tịch thu sung công 02 tờ tiền 5000 đồng và 01 tờ tiền 10.000 đồng; Tịch thu tiêu hủy 01 hộp bánh nhãn hiệu Tipo màu vàng nhạt đã bóc; Lưu hồ sơ vụ án 03 thẻ nhớ màu đen.

Dân sự: Ghi nhận tự nguyện của bị cáo, buộc bị cáo phải bồi thường cho cháu H 50 triệu đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[2]Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19h30' ngày 21/3/2024, tại nhà của Nguyễn Đức Đ ở thôn N, xã Đ, huyện T, Hà Nội, với mục đích giải tỏa nhu cầu sinh lý của bản thân, Đ đã sử dụng bàn tay tiếp xúc trực tiếp với hai bên vùng ngực (bên trong áo) của cháu H và sử dụng bàn tay tiếp xúc trực tiếp lên phía trong đùi và mông (phía bên ngoài quần) của cháu H. Sau đó, Đ đưa cháu H về và chưa có hành vi giao cấu. Tại thời điểm Đ thực hiện các hành vi tiếp xúc với cơ thể cháu H, cháu H mới 10 năm, 02 tháng, 05 ngày tuổi.

Hành vi của Nguyễn Đức Đ đã phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật hình sự.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo Đ sinh năm 1968. Với sự tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện trông tin đại chúng về vấn nạn xâm hại tình dục phụ nữ, dâm ô đối với người đã thành niên và người dưới 16 tuổi, bị cáo đã có đủ năng lực, nhận thức để biết việc xâm hại tình dục đối với người khác, đặc biệt là những người dưới 16 tuổi là sẽ để lại những di chứng nặng nề về tâm lý đối với người bị hại và là hành vi bị pháp luật nghiêm trị. Nhưng xuất phát từ ham muốn sinh lý bản thân và tư tưởng bệnh hoạn về tình dục, bị cáo đã thực hiện hành vi dâm ô đối với cháu H khi cháu H mới hơn 10 tuổi. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi chủ quan, cố ý, thể hiện sự mất đạo đức, nhân cách của bị cáo và ý thức coi thường pháp luật, xâm hại đến danh dự, quyền về thân thể của người khác và xâm hại đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt. Hạn tù của bị cáo kể từ ngày bắt khẩn cấp 22/3/2024. Do bị cáo hiện đang tạm giam và bản thân cũng không có nghề nghiệp liên quan đến môi trường cần phải hạn chế do hành vi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Tang vật, dân sự và án phí:

*/Về dân sự: Bị cáo thực hiện hành vi dâm ô đối với cháu H, nhưng không gây tổn hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng của cháu H. Do vậy, đại diện hợp pháp của cháu H có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về thể chất, tinh thần cho cháu H sẽ được chấp nhận, còn đối với các thiệt hại khác theo quy định tại điều 592 Bộ luật dân sự là không có cơ sở xem xét.

Căn cứ Điều 584; 585; 586; 592 Bộ luật dân sự và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì đối với khoản tiền bồi thường tổn thất tinh thần thì được chấp nhận bổi thường với mức tối đa là 10 tháng lương cơ sở tương tương đương với số tiền là 23.400.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bị cáo tự nguyện sẽ bồi thường 50 triệu đồng và được đại diện hợp pháp cho người bị hại đồng ý nên ghi nhận sự tự nguyện của Nguyễn Đức Đ về việc Bồi thường thiệt hại cho người bị hại số tiền 50.000.000 đồng.

*/Về vật chứng:

  • Đối với 01 áo cộc tay màu cam cổ màu xanh; 01 quần dài nỉ màu xanh đen, sọc màu cam là tài sản của cháu H nên được trả lại cháu H.
  • Đối với 02 tờ tiền 5000 đồng và 01 tờ tiền 10.000 đồng là tài sản do bị cáo sử dụng để nhằm thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung công quỹ.
  • Đối với 01 hộp bánh nhãn hiệu Tipo màu vàng nhạt đã bóc hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 03 thẻ nhớ màu đen là những vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí bồi thường thiệt hại. Bị cáo, người bị hại, đại diện hợp pháp cho người bị hại, người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại được quyền kháng cáo bản án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1968

Phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”

Căn cứ: khoản 1 Điều 146; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Đức Đ 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Hạn tù của bị cáo kể từ ngày bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam 22/3/2024.

Căn cứ: Điều 584; 585; 586; 592 Bộ luật dân sự. Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 21, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án và danh mục kèm theo. Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

*/Dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của Nguyễn Đức Đ về việc Bồi thường thiệt hại cho cháu Nguyễn Thu H số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn xin thi hành án và quyết định thi hành án, bị cáo Nguyễn Đức Đ chưa trả người bị hại số tiền bồi thường thiệt hại phải thi hành án thì phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự tại thời điểm thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

*/Đối với số vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/7/2024 được xử lý như sau:

  • Trả lại cháu Nguyễn Thu H 01 áo cộc tay màu cam cổ màu xanh; 01 quần dài nỉ màu xanh đen, sọc màu cam.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 hộp bánh nhãn hiệu Tipo màu vàng nhạt đã bóc.
  • */Tịch thu sung công quỹ số tiền 20.000 đồng gồm 02 tờ tiền 5000 đồng và 01 tờ tiền 10.000 đồng hiện đang lưu giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện T – tại tài khoản số 3949.0.1048094 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Ủy nhiệm chi số 95 ngày 01/7/2024 của Công an huyện T.
  • */Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 03 thẻ nhớ màu đen.

Bị cáo Nguyễn Đức Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000 (Hai triệu, năm trăm nghìn) đồng án phí bồi thường thiệt hại.

Bị cáo, đại diện hợp pháp cho người bị hại, người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận bản án:

  • - Bị cáo; người bị hại, đại diện bị hại;
  • - Người bảo vệ quyền lợi cho bị hại;
  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND Hà Nội + VKSND Thanh Trì;
  • - Sở Tư pháp HN;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - Trại tạm giam số 2 - CATPHN;
  • - Chi cục THA DS huyện Thanh Trì;
  • - UBND xã Đại Áng, Thanh Trì, HN;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 138/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger