|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 138/2024/HSST
Ngày: 11/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Đình Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phú và bà Ngô Thùy Phương.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Thứ – Thư ký TAND thị xã Quế Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên toà: Ông Đoàn Xuân Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 137/2024/TLST - HS ngày 24/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2024/QĐXXST-HS ngày 28/6/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Quang T, sinh năm 2002
HKTT: Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; Học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Quang T1 và bà Nguyễn Thị K; Vợ, con: Chưa có;
- Tiền sự: Không.
- Tiền án:
- + Bản án số 259/2020/HSST ngày 28/9/2020 của Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 46 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (khi đó đã trên 18 tuổi). Ra trại ngày 18/01/2023, chấp hành xong án phí ngày 12/3/2021, chấp hành xong bồi thường dân sự ngày 28/9/2020 và 15/3/2021.
- + Bản án số 73/2023/HSST ngày 27/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Ra trại ngày 06/2/2024, chấp hành xong án phí ngày 17/5/2023.
Nhân thân: Ngày 15/11/2017, Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội ra Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng đối với T 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 21/11/2019.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
- Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1988, HKTT: khu phố T, phường C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt)
- Anh Đặng Văn C, sinh năm 1988, HKTT: Xóm K, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng (vắng mặt)
- Anh Lương Minh H1, sinh năm 2001, HKTT: Bản Ạng, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Vì Văn T2, sinh năm 1991, HKTT: Tổ dân phố D, thị trấn L, huyện V, tỉnh Yên Bái. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1974, HKTT: Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 11/3/2024, T đang ở nhà tại Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội thì Nguyễn Công T3, sinh năm 2002, HKTT: Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội (theo T trình bày) điện thoại rủ T đi xem có ai để xe mô tô sơ hở thì trộm cắp, T đồng ý. T điều khiển xe mô tô Honda Wave, màu xanh, BKS: 29S7 – 057.07 đến đón T3 thì T3 đưa cho T 04 vam phá khoá và 01 chiếc tay công dùng để phá ổ khoá điện xe mô tô nhằm chiếm đoạt tài sản. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, do T3 biết đường nên đã điều khiển xe mô tô chở T đến khu vực khu phố G, phường P, thị xã Q. Tại đây, T và T3 thấy có 01 xe mô tô Honda Wave, màu trắng bạc, BKS: 99E1 – 651.37 của anh Nguyễn Hữu H đang đỗ ở lòng đường xung quanh không có người trông giữ. Thấy vậy, T bảo T3 quay xe lại để trộm cắp, T3 quay xe lại và đứng cảnh giới cách T 03 mét, T xuống xe đi bộ tiến lại gần dùng vam phá khoá và tay công Thương đưa cho trước đó chọc vào ổ khoá dùng lực vặn theo chiều kim đồng hồ thì mở được ổ khoá điện, T lên xe định đề nổ máy tẩu thoát thì bị lực lượng Công an và người dân bắt quả tang, thu giữ vật chứng còn T3 điều khiển xe mô tô bỏ chạy đi đâu không ai biết.
Quá trình đấu tranh tại Cơ quan điều tra xác định ngoài hành vi trộm cắp vào khoảng 15 giờ ngày 11/3/2024, với thủ đoạn như trên T khai cùng T3 còn có hành vi trộm cắp 02 xe mô tô trên địa bàn huyện Y và thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Với thủ đoạn như trên, Khoảng 19 giờ ngày 05/3/2024, tại khu vực hồ đôi thuộc địa phận Khu đô thị mới, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, T và T3 có hành vi lén lút trộm cắp xe mô tô Honda Wave RSX, BKS: 11B1 - 554.68 của anh Đặng Văn C. Sau khi lấy được xe, T lên xe đề nổ máy cùng T3 bỏ chạy về nhà T để cất giấu. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T3 một mình điều khiển chiếc xe mô tô trên mang đi bán cho ai T không biết được 5.000.000 đồng. Sau đó, T3 chia cho T 2.500.000 đồng. Số tiền này T đã tiêu sài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Với thủ đoạn như trên, khoảng 13 giờ 30 phút 11/3/2024, tại địa phận khu phố L, phường V, thành phố B, T và T3 có hành vi lén lút trộm cắp xe mô tô Honda Wave, màu đen, BKS: 21K1 – 625.07 của anh Lương Minh H1 (anh H1 mượn xe của anh V Văn T2, sinh năm 1991, HKTT: Tổ dân phố D, thị trấn L, huyện V, tỉnh Yên Bái). Sau khi lấy được xe, T nổ máy và cùng T3 điều khiển đi về hướng QL18 cùng với T3 đến khu vực bãi rác cũ chân cầu vượt Đ, thành phố B cất giấu ở trong bụi cây. T3 nói sẽ có người đi ra mua chiếc xe mô tô trên với giá 6.000.000 đồng. T và T3 thống nhất chia nhau mỗi người 3.000.000 đồng nhưng T3 chưa đưa cho T.
Tại Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 13/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã Q kết luận:
- “+ Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại: Wave, màu sơn đen, BKS: 21K1-625.07 tại thời điểm định giá tháng 3/2024 trị giá 12.000.000 đồng;
- + Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại: Wave, màu sơn trắng bạc, BKS: 99E1-651.37 tại thời điểm định giá tháng 3/2024 trị giá 14.000.000 đồng;
- + Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại: Wave RSX, màu sơn xanh đen, BKS: 11B1-554.68 tại thời điểm định giá tháng 3/2024 trị giá 13.000.000 đồng”.
Ngày 14/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q tiến hành kiểm tra điện thoại di động Iphone XS màu vàng gold của T tại phần lịch sử cuộc gọi, tin nhắn zalo, ứng dụng Messenge trong ngày 11/3/2024 không có cuộc gọi hay tin nhắn nào. T trình bày trước khi đi trộm cắp tài sản đã xoá toàn bộ nội dung cuộc gọi và tin nhắn trên điện thoại của mình và hiện tại T không nhớ số điện thoại.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 95/CT-VKSQV ngày 24/6/2024 của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố Nguyễn Quang T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nêu trên. Bị cáo xác định hành vi của mình là phạm tội và hứa sẽ cải tạo tốt, không tái phạm. Bị cáo T nhất trí bồi thường cho bị hại là anh C và anh H1 theo yêu cầu của hai anh.
Những người bị hại là anh Nguyễn Hữu H, anh Đặng Văn C và anh Lương Minh H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T, không yêu cầu bị cáo T bồi thường gì thêm. Anh C và anh H1 đề nghị Tòa án xử phạt bị cáo T theo quy định pháp luật, yêu cầu bị cáo T bồi thường giá trị xe mà bị cáo T trộm cắp của hai anh theo kết quả định giá tài sản.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị K (mẹ bị cáo T) trình bày: Bà được bị cáo T tác động để nộp số tiền 12.500.000 đồng bồi thường một phần cho các bị hại. Bà không yêu cầu bị cáo T phải trả bà số tiền trên. Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave BKS: 29S7 – 057.07 của bà K mà bị cáo T đã mượn của bà đưa cho T3 để chở nhau đi trộm cắp tài sản (như lời trình bày của bị cáo T), bà không yêu cầu bị cáo T phải trả lại bà chiếc xe này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Vì Văn T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt, đồng thời anh T2 không yêu cầu anh Lương Minh H1 bồi thường gì cho anh trong vụ án này. Việc anh H1 mượn xe của anh rồi bị trộm cắp, anh và anh H1 sẽ tự giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Trọng phạm t “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 47 Bộ luật hình sự; các điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- - Xử phạt Nguyễn Quang T từ 33 đến 39 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Quang T phải bồi thường cho anh Đặng Văn C số tiền 13.000.000 đồng; phải bồi thường cho anh Lương Minh H1 số tiền 12.000.000 đồng. Xác nhận bà Nguyễn Thị K đã nộp 12.500.000 đồng để bồi thường thay cho bị cáo T. Trong đó, bồi thường cho anh Đặng Văn C số tiền 6.500.000 đồng; bồi thường cho anh Lương Minh H1 số tiền 6.000.000 đồng.
- - Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy: 04 vam phá khoá và 01 tay công bằng kim loại; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone XS, màu vàng gold.
- - Bị cáo Nguyễn Quang T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo T không tranh luận gì, chỉ đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị K không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai người chứng kiến, xác định hiện trường vụ án, trưng cầu định giá, xác minh lý lịch, nhân thân của bị can; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can, người liên quan. Các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, bị hại là anh Nguyễn Hữu H, anh Lương Minh H1, anh Đặng Văn C; người liên quan là anh Vì Văn T2 vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt, đồng thời cũng đã có đầy đủ quan điểm liên quan đến quyền lợi của mình. Do vậy việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Quang T tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bản kết luận định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định:
Lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý của chủ sở hữu tài sản với thủ đoạn dùng vam phá khoá, tay công, phá hệ thống điện và đấu điện trực tiếp của xe mô tô. Trong hai ngày 05/3/2024 và 11/3/2024, Nguyễn Quang T đã trộm cắp 03 xe mô tô, cụ thể:
- - Khoảng 19 giờ ngày 05/3/2024, tại Khu đô thị mới, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, T đã có hành vi trộm cắp xe mô tô Honda Wave RSX, BKS: 11B1 - 554.68 trị giá 13.000.000 đồng của anh Đặng Văn C.
- - Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 11/3/2024, tại khu phố L, phường V, thành phố B, T đã có hành vi trộm cắp xe mô tô Honda Wave, màu đen, BKS: 21K1 – 625.07 của anh Lương Minh H1 trị giá 12.000.000 đồng.
- - Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 11/3/2024, tại khu phố G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, T đã có hành vi trộm cắp xe mô tô Honda Wave, màu trắng bạc, BKS: 99E1 – 651.37 của anh Nguyễn Hữu H trị giá 14.000.000 đồng.
Mặt khác, Tại Bản án số 259/2020/HSST ngày 28/9/2020 của Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo T 46 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (khi đó đã trên 18 tuổi). Chấp hành xong bản án này ngày 18/01/2023; tại Bản án số 73/2023/HSST ngày 27/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” theo Khoản 1 Điều 330 BLHS, thuộc trường hợp “tái phạm”, bị cáo T chấp hành xong bản án ngày 06/2/2024 nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”.
Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Quang Trọng phạm t “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự, đúng như Cáo trạng của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, từng nhiều lần trộm cắp tài sản đã từng bị đưa vào trường G, bị kết án phạt tù nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội sau khi chấp hành xong hình phạt tù. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Bị cáo T đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T không có nghề nghiệp, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, hai bị hại là anh Đặng Văn C và anh Lương Minh H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có yêu càu bị cáo T phải bồi thường giá trị tài sản theo kết luận định giá. Về phía bị cáo T, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh C, anh H1. Đối với số tiền 12.500.000 đồng mà mẹ anh là bà K đã nộp thay cho anh để bồi thường cho anh C, anh H1, anh đề nghị trả cho anh C số tiền 6.500.000 đồng; trả cho anh H1 số tiền 6.000.000 đồng. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu trên của bị hại và đề nghị của bị cáo T.
[7] Về vật chứng vụ án:
- - Đối với 01 xe mô tô Honda Wave, màu trắng bạc, BKS: 99E1 – 651.37, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là của anh Nguyễn Hữu H. Ngày 03/4/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại chiếc xe trên cho anh H là phù hợp. Anh H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
- - Đối với 01 điện thoại di động Iphone XS màu vàng gold của bị cáo T, dùng để liên lạc với đối tượng T3, rủ nhau đi trộm cắp tài sản, nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- - Đối với 04 vam phá khoá; 01 tay công bằng kim loại mà T dùng để trộm cắp xe mô tô, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Liên quan đến vụ án này còn có:
- - Đối với Nguyễn Công T3 là người T khai đi trộm cắp cùng T, sau khi T3 điều khiển xe mô tô Honda Wave, màu xanh, BKS: 29S7 – 057.07 tẩu thoát đến nay quá trình điều tra, xác minh T3 không có mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã ra thông báo truy tìm đối với T3 khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý sau.
- - Đối với bà Nguyễn Thị K hằng ngày đi làm về muộn nên không biết việc T cất giấu xe mô tô Honda wave, màu đỏ, BKS: 11B1-554.68 tại nhà nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q không xem xét xử lý là phù hợp.
- - Đối với 01 xe mô tô Honda Wave, màu xanh, BKS: 29S7 – 057.07 quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Nguyễn Thị K. Bà K không biết việc T mượn xe của bà dùng để đi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm vật liên quan đến vụ án nhưng chưa thu hồi được, khi nào thu hồi được sẽ xem xét xử lý sau.
[9] Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Trọng phạm t “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 47 Bộ luật hình sự; các điều 329, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử phạt Nguyễn Quang T 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày 11/3/2024.
- Tạm giam Nguyễn Quang T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Quang T phải bồi thường cho anh Đặng Văn C số tiền 13.000.000 (Mười ba triệu) đồng; phải bồi thường cho anh Lương Minh H1 số tiền 12.000.000 (Mười hai triệu) đồng.
- Xác nhận bà Nguyễn Thị K đã nộp 12.500.000 đồng để bồi thường thay cho bị cáo T. Trong đó, bồi thường cho anh Đặng Văn C số tiền 6.500.000 đồng; bồi thường cho anh Lương Minh H1 số tiền 6.000.000 đồng. (Theo giấy nộp tiền ngày 18/6/2024)
- Về vật chứng vụ án:
- - Tịch thu tiêu hủy: 04 vam phá khoá đã qua sử dụng và 01 tay công bằng kim loại đã qua sử dụng.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone XS, màu vàng gold đã qua sử dụng số imei: 357228098592146
Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ ngày 29/6/2024
- Về án phí: Buộc Nguyễn Quang T phải chịu 200.000 đồng đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kết từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Đình Công |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Quang Tuyến Ngô Thùy Phương |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đình Công |
Bản án số 138/2024/HSST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 138/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TCTS
