Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THÔNG XUÂN

TP.HÀ NỘI

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

*****

Bản án số: 138/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/5/2024

V/v xin ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THÔNG XUÂN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan

2. Ông Đặng Như Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thông Xuân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Lan – Kiểm sát viên

Trong ngày 10 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thông Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 474/2023/TLST-HNGĐ ngày 04/10/2023 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/3/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 37/2024/QÐST-HNGĐ ngày 16/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Mã Thúy S, sinh năm 1978

HKTT: Số nhà B, ngách B phố K, phường K, quận T, Hà Nội

Chỗ ở hiện này: P2307, chung cư T, số A T, Cầu G, Hà Nội

(Vắng mặt và đã có đơn xin vắng mặt tại phiên toà).

- Bị đơn: Ông Phạm Như H, sinh năm 1968

HKTT và chỗ ở hiện nay: Số nhà B, ngách B phố K, phường K, quận T, Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn ly hôn và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn trình bày:

Bà và ông Phạm Như H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 22/4/1999 tại UBND phường K, T, Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau tại nhà chồng ở số nhà B, ngách B phố K, phường K, quận T, Hà Nội. Thời gian đầu sau khi kết hôn, đời sống vợ chồng diễn ra bình thường, khá hạnh phúc. Sau đó vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã. Nguyên

nhân do bất đồng quan điểm sống, lối sống không hoà hợp, đặc biệt là bất đồng về cách nuôi dạy con cái và một phần nhỏ do kinh tế khó khăn. Một nguyên nhân nữa là do ông H nghiện bia rượu, cứ uống bia rượu về là chửi bới vợ con, đuổi bà ra khỏi nhà. Bà và gia đình đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng ông H không thay đổi. Bà cảm thấy rất mệt mỏi, căng thẳng và bế tắc. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay, mỗi người ở một phòng, vợ chồng không còn yêu thương nhau. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Tòa án cho bà được ly hôn ông H. Bà đã trao đổi về vấn đề ly hôn với ông H nhiều lần, lúc đầu ông Hải đồng ý ly hôn và đã ký đơn ly hôn, nhưng khi Toà án báo gọi thì ông H lại không đến Toà thực hiện thủ tục ly hôn. Vì vậy bà phải làm lại đơn ly hôn đơn phương. Ông H tuyên bố sẽ không hợp tác, không đến Toà án làm việc để gây khó khăn cho bà trong việc giải quyết vụ án.

Về con chung: Vợ chồng bà có 02 con chung là Phạm Hải L (nam) sinh ngày 10/5/2001 và Phạm Hải Đ (nam), sinh ngày 09/9/2007. Hiện nay cả hai con đang ở với bố tại số nhà B, ngách B phố K, phường K, quận T, Hà Nội (là nhà của bố mẹ chồng bà), còn bà ra ngoài thuê trọ. Cháu L đã trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng. Khi bà nêu quan điểm ly hôn thì ông H nói ông H muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, nguyện vọng của cháu Đ cũng muốn được ở cùng bố để thuận tiện cho việc học hành và ăn ở của cháu. Do đó bà đề nghị Toà án giao cháu Đ cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, hàng tháng bà sẽ cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ông H là 3.000.000 đồng/tháng. Bản thân bà hiện đang đi thuê nhà, chỗ ở không ổn định, kinh tế còn nhiều khó khăn.

Về tài sản: Vợ chồng bà không có tài sản chung, không có nợ chung, bà không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản.

Quá trình chung sống vợ chồng bà không có vay mượn gì và cũng không có đóng góp gì với gia đình hai bên.

Về bố mẹ hai bên: Bố mẹ bà hiện đã chết, bố mẹ chồng thì đang sống cùng chồng bà tại số nhà B, ngách B phố K, phường K, quận T, Hà Nội. Bố chồng đã già yếu, nằm tại nhà. Mẹ chồng còn khoẻ nhưng không hợp tác trong việc cung cấp lời khai cho Toà án, bản thân vợ chồng bà đã trưởng thành, tự quyết định được các vấn đề về hôn nhân của mình nên bà đề nghị Toà án không lấy lời khai của bố mẹ.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do và không có bất cứ ý kiến gì gửi Toà án.

Tòa án tiến hành lấy lời khai của anh Phạm Hải L, sinh ngày 10/5/2001 (con chung của vợ chồng bà Mã Thúy S và ông Phạm Như H). Sau khi được hỏi anh L trình bày: Anh là con của mẹ Mã Thúy S và bố Phạm Như H. Quá trình chung sống cùng bố mẹ, anh thấy bố mẹ thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bố anh hay uống bia rượu về chửi bới, lăng mạ mẹ và làu bàu với anh và em trai anh; và do bố mẹ anh bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, đặc biệt là bất đồng trong vấn đề việc làm, kinh tế. Từ khi anh học cấp 2 (khoảng năm 2015, 2016) bố mẹ đã ly thân (ngủ riêng, không ngủ chung với nhau). Mẹ ngủ với hai anh em anh, còn bố ngủ một mình ở phòng khác. Nói chung anh thấy đời sống vợ chồng của bố mẹ không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã, bất đồng. Nay mẹ anh xin ly hôn, quan điểm của anh là: Mặc dù anh thực sự rất buồn khi bố mẹ đổ vỡ, nhưng trước cảnh sống nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc như của bố mẹ anh thì anh nghĩ giải thoát cho nhau là giải pháp tốt nhất cho cả hai người. Hiện nay anh đã ở tuổi trưởng thành và đi làm, tự lo được cuộc sống cho mình. Do công việc bận rộn nên anh xin được vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa và tại phiên tòa.

Tòa án tiến hành lấy lời khai của cháu Phạm Hải Đ, sinh ngày 09/9/2007 (con chung của vợ chồng bà Mã Thúy S và ông Phạm Như H) về nguyện vọng của cháu, cháu trình bày nguyện vọng muốn được ở cùng với bố, vì ở với bố sẽ thuận tiện cho việc học hành và sinh hoạt của cháu.

Tòa án tiến hành làm việc với tổ trưởng tổ dân phố A, phường K, T, Hà Nội, được bà Nguyễn Thanh X cung cấp như sau: Ngày 25/7/2023, bà S sang nhà bà xin xác nhận về tình trạng chung sống của vợ chồng và có nói với bà về việc vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên bà có xác nhận vào giấy ngày 25/7/2023 nội dung như vậy, còn thực tế vợ chồng mâu thuẫn thế nào bà không nắm được. Con của bà S ông H là Phạm Hải Đ từ trước đến nay vẫn chung sống cùng bố mẹ tại địa chỉ: Số nhà B, ngách B phố K, phường K, quận T, Hà Nội. Khi bà S chuyển đi nơi khác sinh sống, cháu Đ vẫn sống cùng ông H tại địa chỉ trên. Quá trình chung sống cùng ông H, cháu Đ vẫn đi học và sinh hoạt bình thường. Bà không nhận được phản ánh gì của gia đình và quần chúng nhân dân về hành vi bạo hành trẻ em hay bất cứ hành vi gì ảnh hưởng đến quyền lợi của cháu Đ.

Toà án làm công văn hỏi ý kiến của Phòng Lao động thương binh và xã hội quận T, được Phòng Lao động thương binh và xã hội quận T trả lời: Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho trẻ em.

Tại phiên tòa:

Phiên toà lần 1 (ngày 16/4/2024) bà S có mặt, ông H vắng mặt không có lý do, Toà án đã hoãn phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, bà S vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân quận Thanh Xuân (Thẩm phán, Thư ký) và nguyên đơn đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên toà. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận đơn xin ly hôn của bà S, cho bà S được ly hôn ông H và giao con chung là cháu Phạm Hải Đ cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, bà S cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ông H là 3.000.000 đồng/tháng.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả trông luận tại phiên tòa trên cơ sở ý kiến của đương sự, Kiểm sát viên

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

Đối với sự vắng mặt của bị đơn. Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn đều vắng mặt. Phiên toà lần 1 bị đơn vắng mặt. Toà án đã hoãn phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, bị đơn vẫn vắng mặt, do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Đối với sự vắng mặt của nguyên đơn: Nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn là phù hợp với khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Mã Thúy S và ông Phạm Như H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 22/4/1999 tại UBND phường K, T, Hà Nội nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét thấy: Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống không hòa hợp, không có tiếng nói chung, vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nay. Nay hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà S đối với ông H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Hải L (nam) sinh ngày 10/5/2001 và Phạm Hải Đ (nam), sinh ngày 09/9/2007. Hiện nay cả hai con đang ở với bố tại số nhà B, ngách B phố K, phường K, quận T, Hà Nội. Cháu L đã trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng.

Bà S đề nghị giao cháu Đ cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng vì bản thân bà hiện đang đi thuê nhà, chỗ ở không ổn định, kinh tế còn nhiều khó khăn. Xét thấy: Từ nhỏ cho tới nay, cháu Đ đều ở ổn định với bố, bao gồm cả thời gian gần mười năm bố mẹ ly thân. Hiện cháu Đ có nguyện vọng muốn được tiếp tục ở cùng bố để thuận tiện cho việc học hành và sinh hoạt của cháu. Do đó căn cứ vào các điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao con chung là cháu Phạm Hải Đ cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của con chung. Ghi nhận sự tự nguyện của bà S cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ông H là 3.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản của vợ chồng: Bà S xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, bà không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản nên Tòa không xem xét.

Về án phí: Bà S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà bà Mã Thúy S đối với ông Phạm Như H. Bà Mã Thúy S được ly hôn ông Phạm Như H.

2. Về con chung: Giao ông Phạm Như H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Phạm Hải Đ (nam), sinh ngày 09/9/2007; ghi nhận sự tự nguyện của bà Mã Thúy S cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ông H là 3.000.000 đồng/tháng, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.

Bà S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở

3. Về tài sản: Không xem xét

4. Về án phí: Bà S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 đồng, được đối trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà S đã nộp tại biên lai số 0004285 ngày 04/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, Hà Nội. Bà S còn phải nộp số tiền án phí là 300.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Bà S, ông H vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội.;
  • - VKSND TP Hà nội;
  • - VKSND quận Thông Xuân;
  • - THADS quận Thông Xuân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Thúy Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THÔNG XUÂN về xin ly hôn

  • Số bản án: 138/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THÔNG XUÂN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn giữa Mã Thuý S và Phạm Như H, có cấp dưỡng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger