Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 138/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07-6-2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến;

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Thanh Hải;

Ông Đỗ Trọng Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hinh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 78/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 20 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Danh T; đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở hiện nay: Láng Hàng, ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Phạm Thị N; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: N; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Danh T trình bày:

Anh Danh T và chị Phạm Thị N xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, tự tìm hiểu vào năm 2022 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Sau khi cưới vợ chồng về chung sống tại Bạc Liêu một thời gian, sau đó hai bên chuyển ra Hải Phòng chung sống. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống với nhau hoà thuận, hạnh phúc, nhưng do bất đồng về quan điểm sống, cách nhìn nhận cuộc sống của hai bên không còn phù hợp nên xảy ra mâu thuẫn. Mặc dù hai bên đã rất cố gắng để hoà giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng và hai gia đình cũng nhiều lần can thiệp nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Anh T trở về Bạc Liêu sinh sống còn chị N ở lại Hải Phòng. Đến tháng 9 năm 2023 chị N đã đi Newzealand sinh sống và làm việc, từ đó cho đến nay vợ chồng không liên lạc với nhau nữa. Anh không biết địa chỉ của chị N tại N, tuy nhiên anh được biết chị N vẫn thường xuyên liên lạc với bố đẻ là ông Phạm Thế T1; địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh và chị N không còn, việc duy trì hôn nhân không có kết quả nên anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phạm Thị N.

Về con chung: Vợ chồng anh chị chưa có con chung nên anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh T và chị N không có tài sản chung nên anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Phạm Thị N: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã thông báo cho gia đình chị N cung cấp địa chỉ của chị N tại N và yêu cầu gia đình chị N cho biết kết quả gia đình đã thông báo cho chị N biết việc anh T xin ly hôn để chị gửi lời khai và cung cấp tài liệu, chứng cứ về Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật. Tòa án đã ghi ý kiến của bố đẻ chị N là ông Phạm Thế T1 thấy: Năm 2022 anh T kết hôn cùng con gái ông là chị Phạm Thị N, cả hai có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Việc lấy nhau của hai anh chị là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn được một thời gian hai vợ chồng anh T, chị N chuyển về sinh sống tại gia đình ông. Sau đó vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, khi biết mâu thuẫn của vợ chồng gia đình ông đã khuyên nhủ nhưng không có kết quả. Sau đó mâu thuẫn ngày càng căng thẳng nên anh T về Bạc Liêu sinh sống còn chị N ở lại cùng gia đình ông, cũng từ đó hai vợ chồng chị N sống ly thân với nhau. Từ tháng 9 năm 2023 đến nay chị N đi Newzealand chưa trở về Việt Nam. Gia đình ông vẫn thường xuyên liên lạc với chị N, ông đã nhận các thông báo của Toà án về việc cung cấp địa chỉ của chị N, cũng như sau khi nhận các giấy tờ của Toà án gửi cho chị N về việc anh T có đơn xin ly hôn với chị. Ông có trao đổi với chị N và chị N có quan điểm là chị N đồng ý ly hôn với anh T nhưng do chị ở xa không thể đến Toà án để giải quyết việc ly hôn của anh T. Đã rất nhiều lần ông đề nghị chị N cung cấp địa chỉ cụ thể của chị để ông nộp tới Toà nhưng chị N không cung cấp cho ông nên ông không thể cung cấp cho Toà án được.

Về con chung: Anh T và chị N chưa có con chung nên gia đình không có ý kiến gì.

Về tài sản chung: Theo gia đình được biết thì vợ chồng anh T chị N không có tài sản chung.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của Nguyên đơn và các tài liệu Tòa án đã thu thập thể hiện mâu thuẫn của anh T và chị N đã căng thẳng, trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn cho ly hôn giữa anh Danh T và chị Phạm Thị N.

Về con chung: Anh T và chị N chưa có con chung nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Về tài sản chung: Anh T trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Về án phí: Anh T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn. Bị đơn là chị Phạm Thị N; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Newzealand. Nguyên đơn là anh Danh T; đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở hiện nay: Láng Hàng, ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai, anh Danh T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị Phạm Thị N vắng mặt mặc dù đã được tống đạt, thông báo hợp lệ. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Danh T và chị Phạm Thị N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, tự tìm hiểu vào năm 2022 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 24 tháng 3 năm 2022, tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do hai bên bất đồng nhau về quan điểm sống, nên anh T và chị N đã tự sống ly thân nhau mỗi người một nơi. Chị N về nhà bố mẹ đẻ ở và từ tháng 9 năm 2023 đã sang N sinh sống, làm việc cho đến nay chưa trở lại Việt Nam, từ khi hai vợ chồng sống ly thân anh T và chị N không còn liên lạc gì với nhau, hiện tại anh T cũng không biết chính xác địa chỉ nơi ở của chị N tại N. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh T và chị N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh D Tới với chị Phạm Thị N là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con chung: Anh Danh T và chị N chưa có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Anh T trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không đề nghị Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Anh Danh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; xử:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Danh T được ly hôn chị Phạm Thị N.

Về án phí: Anh Danh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền trên anh T đã nộp đủ tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0000256 ngày 20 tháng 3 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

Về quyền kháng cáo: Anh Danh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Chị Phạm Thị N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- VKSND TP Hải Phòng;

- Cục THADS TP Hải Phòng;

- UBND xã Đại Bản, huyện An Dương, TP Hải

Phòng (GCNKH ngày 24/3/2022);

- Các đương sự;

- Lưu: HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hải Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 138/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân- Tới
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger