|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 138/2024/HS-ST Ngày: 05-6-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Xuân Hương.
- Bà Trần Thị Lợi.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thương, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số 132/2024/HSST ngày 07/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 10/8/1965, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Giới tính: Nữ; Nơi thường trú: Tổ F, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 3/12; Con ông: Cao Văn S, sinh năm: 1929 (chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1928 (chết). Bị cáo có chồng tên Hồ Văn R, sinh năm: 1963; có 02 con Nguyễn Hồ Minh H, sinh năm: 1999 và Hồ Minh T1, sinh năm: 1987; A, chị, em ruột: Không có.
Tiền án: Năm 2017, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 01/9/2021; được đặc xá trở về địa phương.
Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/11/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sau khi chấp hành xong án phạt tù về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" và được đặc xá trở về địa phương, do không có nghề nghiệp ổn định và muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Thị Tuyết N đã tiếp tục nảy sinh ý định đi mua trái phép chất ma túy mang về nhà phân ra thành từng phần, sau đó cho ma túy vào trong các đoạn ống nhựa rồi hàn kín hai đầu để bán cho người khác. Ngày 09/11/2023, N đang ở nhà của N tại địa chỉ số F đường số A, tổ F, ấp B, xã B, huyện C, TP ., sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel của N gọi điện thoại hỏi mua của một người nam thanh niên tên V (không rõ lai lịch) chất ma túy, loại H1 với giá 2.000.000 đồng thì người này đồng ý bán và hẹn địa điểm giao tiền, nhận chất ma túy tại khu vực ấp F, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Thỏa thuận xong, N điều khiển chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 59Y2-595.89 đi từ nhà của N đến địa điểm hẹn. Tại đây, N gặp và đưa cho một người nam thanh niên (không rõ lai lịch) số tiền 2.000.000 đồng, người nam thanh niên nhận lấy số tiền 2.000.000 đồng của N và đưa lại cho N một gói ma túy rồi bỏ đi. N nhận lấy gói ma túy rồi mang về nhà phân chia ma túy ra thành 58 (năm mươi tám) đoạn ống nhựa bên trong có chứa chất bột màu trắng là chất ma túy sau đó mang đi cất giấu trong nhà của N.
Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 10/11/2023, N đang ở nhà của N thì có một người nam thanh niên (không rõ lai lịch) sử dụng số thuê bao di động 0867879731 gọi vào số thuê bao di động 0879864542 của N hỏi mua 100.000 đồng chất ma túy, loại Heroin thì N đồng ý bán và hẹn địa điểm giao chất ma túy, nhận tiền tại khu vực đầu đường A thuộc ấp C, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi thỏa thuận xong, N lấy một đoạn ống nhựa bên trong có chứa chất bột màu trắng là chất ma túy và dùng giấy cuộn lại cất giấu vào trong túi quần bên trái, phía trước của N đang mặc rồi điều khiển chiếc xe gắn máy biển số 59Y2-595.89 đến điểm hẹn. Khi đi đến đoạn đường số 186 giáp với đoạn đường Tỉnh lộ 8, Tổ G, Ấp C, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì N bị lực lượng Công an xã B yêu cầu dừng xe lại để kiểm tra. Lúc này, N lấy ra một gói giấy bên trong có một đoạn ống nhựa chứa chất bột màu trắng là chất ma túy (ký hiệu m1) từ trong túi quần bên trái, phía trước của N đang mặc giao nộp cho lực lượng Công an. N khai nhận N mang chất ma túy để đi bán cho người khác nên lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị Tuyết N về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” lúc 10 giờ 10 phút cùng ngày.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật, tài liệu của Nguyễn Thị Tuyết N; địa chỉ số F, đường số A, Tổ F, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C phát hiện, thu giữ: 57 (năm mươi bảy) đoạn ống nhựa bên trong có chứa chất bột màu trắng (ký hiệu m2), 01 (một) cái kéo, 03 (ba) quẹt lửa, 15 (mười lăm) đoạn ống nhựa rỗng không chứa gì.
Kết luận giám định số: 12700/KL-KTHS ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Phòng K Công an Thành phố H xác định: 02 (hai) gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Tuyết N và hình dấu Công an xã B, huyện C, bên trong:
- Gói 01: Bột màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa (Ký hiệu mẫu ml) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1567g (không phẩy một năm sáu bảy gam), loại Heroine.
- Gói 02: Bột màu trắng trong 57 đoạn ống nhựa (Ký hiệu mẫu m2) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 7,4592g (bảy phẩy bốn năm chín hai gam), loại Heroine.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, bị cáo Nguyễn Thị Tuyết N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng số: 126/CT-VKS-CC ngày 03 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Nguyễn Thị Tuyết N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 của N1.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết N thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Đề nghị: Phạt Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết N 09 (chín) năm tù đến 10 (mười) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS:
- - Tịch thu tiêu hủy: 58 (năm mươi tám) đoạn ống nhựa bên trong có chứa chất bột màu trắng được niêm phong trong 02 gói mang số vụ 2461/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên; 01 (một) cái kéo; 03 (ba) quẹt ga; 15 (mười lăm) đoạn ống nhựa rỗng.
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, số imei 1: 35276624551812, số imei 2: 352766240551820; 01 (một) chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số 59Y2-595.89, số máy: SC6J-091374, số khung: JOEY-091374.
- * Bị cáo tự bào chữa: Không.
* Lời nói sau cùng của Bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã ăn năn hối cãi.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên Tòa, Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của Bị cáo là phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi. Theo đó, có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 10 giờ 10 phút ngày 10/11/2023, trên tuyến đường số 186 giáp với đường T, thuộc Ấp C, xã B, huyện C Thành Phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thị Tuyết N đã bị bắt quả tang đang giữ trong người 0,1567 gam ma túy ở thể rắn, loại Heroin. Khám xét chỗ ở của bị cáo N tại 6, đường A, tổ F, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ 7,4592 gam là ma túy ở thể rắn, loại Heroin. Số ma túy bị cáo cất giữ trong người và tại chỗ ở nhằm để bán cho người khác kiếm lời.
Tổng số ma túy bị cáo N cất giấu để bán có khối lượng 7,6159 gam (0,1567 gam + 7,4592 gam). Bị cáo N đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là tái phạm nguy hiểm. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Tuyết N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i, q Điều 251 Bộ luật Hình sự. Truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, hành vi mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, tạo ra một lớp người nghiện qua đó đe dọa nghiêm trọng đến an toàn trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của giống nòi, gây tha hoá hư hỏng cho bộ phận thanh thiếu niên, là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Do đó, hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm. Bản thân bị cáo nhận thức được điều đó nhưng vì muốn có tiền để sử dụng ma túy bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do vậy, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục riêng đồng thời phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, do vậy Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
[6] Xét vật chứng vụ án:
- - Đối với: 58 (năm mươi tám) đoạn ống nhựa bên trong có chứa chất bột màu trắng được niêm phong trong 02 gói mang số vụ 2461/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên; 01 (một) cái kéo; 03 (ba) quẹt ga; 15 (mười lăm) đoạn ống nhựa rỗng là vật cấm lưu hành và công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, số imei 1: 35276624551812, số imei 2: 352766240551820; 01 (một) chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số 59Y2-595.89, số khung: JOEY-091374, số máy: 5C6J-091374 là tài sản của bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[7] Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết N 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/11/2023.
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự:
- + Tịch thu và tiêu hủy: 58 (năm mươi tám) đoạn ống nhựa bên trong có chứa chất bột màu trắng được niêm phong trong 02 gói mang số vụ 2461/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên; 01 (một) cái kéo; 03 (ba) quẹt ga; 15 (mười lăm) đoạn ống nhựa rỗng
- + Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, số imei 1: 35276624551812, số imei 2: 352766240551820 và 01 (một) chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số 59Y2-59589, số khung: JOEY-091374, số máy: 5C6J-091374.
(Vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 483/LNK ngày 04/4/2024 và phiếu nhập kho số: 104/PNK ngày 08/4/2024).
Căn cứ vào Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án Bị cáo có quyền kháng cáo.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Ngọc |
Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 138/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Tuyết - Mua bán trái phép chất ma túy
