Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2024/HS-ST

Ngày: 02 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thuỳ Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quản, bà Lâm Thị Nga

ảng Phong Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thị Trang – Thư ký Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 170/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 649/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 742/TB-TA ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Huỳnh Vĩnh Đ – sinh năm: 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Số B đường N, phường G, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Trọng V và bà Nguyễn Thị Thu V1; Vợ, con: chưa có.

Tiền án: Ngày 29/9/2021 bị Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án số 369/2021/HSST); đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/12/2022 và thi hành xong án phí hình sự ngày 09/5/2024, chưa được xoá án tích.

Tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 25/02/2019 bị Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng (theo Quyết định số 179/QĐ-TA), chấp hành xong ngày 24/9/2020.

Bị bắt tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến nay; có mặt.

2. Nguyễn Nhật L – sinh năm: 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ĐKTT: Số B đường P, phường G, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú hiện nay: Số D đường L, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không;

2

Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy L1 và bà Nguyễn Thị D; vợ, con: chưa có.

Tiền án: Ngày 30/6/2017 bị Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 135/2017/HSST áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009), đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/4/2021, chưa được xoá án tích.

Tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 22/01/2013 bị Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (theo bản án số 16/2013/HS-ST). Ngày 09/4/2013 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (theo bản án số 210/2013/HS-PT); đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/4/2015, thi hành xong án phí hình sự ngày 08/11/2013.

Bị bắt tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Anh Võ Đức H; địa chỉ: B H, tổ C, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Phạm Thị Tuyết A; Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; vắng mặt.

Người làm chứng: Anh Lê Huỳnh Đức A1, anh Võ Văn Đ1, chị Đỗ Thị Bích P; văng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 6 năm 2023 đến tháng 12 năm 2023, Huỳnh Vĩnh Đ thuê nhà trọ ở tại địa chỉ số B đường H, tổ C, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản tại đây.

Vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 15/01/2024, Huỳnh Vĩnh Đ gọi điện rủ Nguyễn Nhật L cùng đi đến bãi gửi xe của nhà trọ nói trên để trộm cắp tài sản lấy tiền tiêu xài thì được L đồng ý. Đến khoảng 04 giờ 50 phút cùng ngày, L điều khiển xe môtô biển số 64T1-2835 của L đến đón Đ tại địa chỉ số G đường T, tổ A, khu phố C, phường T, Quận A để chở Đ đến trước nhà trọ trên. Khi đến nơi, Đ đi bộ vào bên trong nhà trọ để trộm cắp tài sản còn L ngồi trên xe môtô dựng phía trước nhà trọ để cảnh giới nhưng cổng dãy nhà trọ bị khóa nên không vào được bên trong.

Khoảng 05 giờ 00 phút cùng ngày, khi Đ và L đang ở phía trước nhà trọ thì Đ thấy anh Lê Huỳnh Đức A1 (là người thuê phòng trọ) đi làm về mở cửa cổng bãi giữ xe của nhà trọ thì Đ nói dối với anh Đức A1 là “để cửa đó để Đ lên dọn đồ”. Do biết trước đây Đ ở chung dãy phòng trọ nên anh Đức A1 đã tin tưởng để cửa cho Đ vào còn anh Đức A1 về phòng trọ nghỉ ngơi. Sau khi vào bên trong bãi

3

xe, Đ phát hiện xe môtô biển số 48C1-300.79 (của anh Võ Đức H) không có người trông coi nên đã trộm cắp chiếc xe nêu trên. Do xe gắn chìa khóa S nên Đ đã dẫn bộ ra khỏi dãy trọ rồi được L điều khiển xe môtô biển số 64T1-2835 dùng chân trái đẩy xe môtô biển số 48C1-300.79 do Đ điều khiển để tẩu thoát.

Khi tẩu thoát đến khu vực cầu A, phường T, Quận A, Đ nói với L đi về trước để Đ ở lại để bán xe môtô trộm cắp được. Sau đó, Đ liên lạc bán xe môtô nêu trên cho N và một nam thanh niên (chưa rõ lai lịch) tại khu vực dưới chân cầu A với giá 8.000.000đồng. Sau khi bán xe, Đ về nhà trọ của L tại địa chỉ 453/20/14 đường L, phường H, Quận A và chia cho L số tiền 2.000.000đồng, phần Đ giữ số tiền 6.000.000đồng, Đ và L đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện mất tài sản, anh Võ Đức H đến Công an phường T, Quận A trình báo sự việc.

Công an phường T, Quận A tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 25/01/2024, tại bãi đất trống thuộc tổ E, khu phố C, phường T, Quận A, Công an phường T phát hiện 01 xe môtô hiệu SH màu trắng đen (không gắn biển số), không có người trông coi, có dấu hiệu nghi vấn nên tiến hành thu giữ. Qua xác minh số khung, số máy của xe xác định xe môtô hiệu SH nêu trên là xe môtô của anh Võ Đức H bị mất trộm nên Công an phường T chuyển vật chứng đến Công an Q1 để xử lý theo thẩm quyền (Bút lục 160).

Cùng ngày 25/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 triệu tập Huỳnh Vĩnh Đ, Nguyễn Nhật L đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Đ và L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

* Vật chứng và xử lý vật chứng:

- 01 USB màu trắng chứa hình ảnh liên quan đến vụ trộm cắp tài sản (đính kèm trong hồ sơ vụ án).

- 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, loại SH Mode màu sơn trắng đen, số khung RLHJK0115NZ707460, số máy JK01E0297419, không gắn biển số. Qua xác minh xác định xe môtô có số khung, số máy nêu trên do anh Võ Đức H đứng tên chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.

- 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen bạc, biển số 64T1-2835, số khung RLCS5C6308Y115620, số máy 5C63115620. Thu giữ của Nguyễn Nhật L. L trình bày mua xe môtô trên của bà Nguyễn Thị S1 (chủ cửa hàng mua bán xe máy cũ tại địa chỉ số B đường P, phường C, Quận P vào ngày 10/10/2023 với giá 4.900.000đồng, có giấy bán xe kèm theo nhưng chưa sang tên chủ sở hữu. L sử dụng xe môtô trên chở Huỳnh Vĩnh Đ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bà S1 mua xe môtô này của nam thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 4.500.000đồng vào khoảng đầu tháng 09/2023, sau đó bán lại cho L. Qua xác minh xác định xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số: 64T1-2835, số

4

khung RLCS5C6308Y115620, số máy 5C63115620 do chị Phạm Thị Tuyết A đứng tên chủ sở hữu. Kết quả xác minh chị Tuyết A không có mặt tại nơi cư trú. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã đăng tin truy tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, số Imei: 355690071832983 của Huỳnh Vĩnh Đ sử dụng để gọi điện rủ Nguyễn Nhật L đi trộm cắp tài sản.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020, Imei: 862208040372050 của Nguyễn Nhật L sử dụng để liên lạc với Huỳnh Vĩnh Đ đi trộm cắp tài sản.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-ĐGTS ngày 02/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A (BL 187-188) đã kết luận: “01 xe môtô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu trắng đen, biển số 48C1-300.79, số khung RLHJK0115NZ707460, số máy: JK01E0297419, tài sản đã qua sử dụng, trị giá 39.000.000 đồng”.

* Tại phiên toà các bị cáo Huỳnh Vĩnh Đ, Nguyễn Nhật L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.

Tại Cáo trạng số 158/CT-VKS-Q12 ngày 09/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố bị cáo Huỳnh Vĩnh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Nhật L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố đối với các bị cáo Huỳnh Vĩnh Đ, Nguyễn Nhật L và đề nghị:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Vĩnh Đ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật L từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung và các biện pháp tư pháp khác.
  • - Về phần dân sự: Đã giải quyết xong.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
    • + Đăng tin và xử lý theo quy định pháp luật đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen bạc, biển số 64T1-2835, số khung RLCS5C6308Y115620, số máy 5C63115620 thu giữ của Nguyễn Nhật L.
    • + Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, số Imei: 355690071832983 của Huỳnh Vĩnh Đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020, Imei: 862208040372050 của Nguyễn Nhật L do liên quan đến hành vi phạm tội.

5

- Lưu trữ trong hồ sơ 01 USB chứa hình ảnh liên quan đến vụ án.

Các bị cáo không tranh luận. Khi nói lời nói sau cùng các bị cáo đã tỏ ra ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; tang vật thu giữ; lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng; kết luật định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định: Vào lúc 05 giờ 00 phút ngày 15/01/2024, tại nhà trọ địa chỉ số B đường H, tổ C, khu phố C, phường T, Quận A, Huỳnh Vĩnh Đ và Nguyễn Nhật L đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe môtô biển số 48C1- 300.79 của anh Võ Đức H, giá trị 39.000.000 đồng.

Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp nên hành vi của các bị cáo Huỳnh Vĩnh Đ và Nguyễn Nhật L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là nghiêm trọng; hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương và gây tâm lý lo ngại trong nhân dân. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc và cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Trị giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 39.000.000đồng nên hành vi của bị cáo Huỳnh Vĩnh Đ theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Nhật L đã “Tái phạm nguy hiểm”, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

6

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Huỳnh Vĩnh Đ có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự “Tái phạm”. Bị cáo Nguyễn Nhật L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và phiên tòa các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về phân hoá vai trò các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, bị cáo Huỳnh Vĩnh Đ là người khởi xướng rủ rê bị cáo Nguyễn Nhật L cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo Đ là người trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và cũng được hưởng lợi nhiều hơn bị cáo L nên có vai trò cao hơn bị cáo L. Còn bị cáo L là người bị rủ rê lôi kéo, thực hiện hành vi phạm tội với vai trò cảnh giới, tạo điều kiện cho Đ chiếm đoạt tài sản, giúp Đ đẩy xe môtô trộm cắp và hưởng lợi ít hơn nên có vai trò thấp hơn.

Về mức hình phạt áp dụng với các bị cáo: Mặc dù bị cáo Huỳnh Vĩnh Đ có vai trò cao hơn bị cáo Nguyễn Nhật L, bị cáo Đ có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, 01 tình tiêt giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Còn bị cáo L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo L chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự “Tái phạm nguy hiểm” nên cần phải xử phạt bị cáo L ở mức hình phạt cao hơn bị cáo Đ mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Võ Đức H đã được nhận lại xe môtô bị trộm cắp nên không yêu cầu bồi thường.

[8] Đối với các vấn đề khác: Đối với người tên N và một nam thanh niên đi chung với N (chưa rõ lai lịch) đã mua xe môtô do Đ và L trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 tiếp tục điều tra, làm rõ và đề nghị xử lý sau.

[9] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, loại SH Mode màu sơn trắng đen, số khung: RLHJK0115NZ707460, số máy: JK01E0297419 không gắn biển số. Qua xác minh xác định xe môtô có số khung, số máy nêu trên do anh Võ Đức H đứng tên chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.
  • - Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen bạc, biển số 64T1-2835, số khung RLCS5C6308Y115620, số máy 5C63115620 thu giữ của Nguyễn Nhật L. Qua xác minh xe môtô nói trên do chị Phạm Thị Tuyết A đứng tên chủ sở hữu nhưng chị Tuyết A không có mặt tại nơi cư trú, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã đăng tin tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả. Bị cáo L khai nhận mua xe môtô này của bà Nguyễn Thị S1 (chủ cửa hàng mua bán xe máy cũ tại địa chỉ số B đường P, phường C, Quận P). Bà S1 khai mua xe môtô

7

của nam thanh niên không rõ lai lịch sau đó bán lại cho L vào ngày 10/10/2023 có giấy bán xe kèm theo nhưng chưa sang tên theo quy định pháp luật, bị cáo L sử dụng xe môtô trên chở bị cáo Đ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, cần giao Cơ quan Thi hành án dân sự Quận 12 thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với xe môtô biển số 64T1-2835 nói trên. Sau thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên, nếu xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung quỹ nhà nước.

  • - Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, số Imei: 355690071832983 của Huỳnh Vĩnh Đ sử dụng để gọi điện rủ L đi trộm cắp tài sản; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020, Imei: 862208040372050 của Nguyễn Nhật L sử dụng để liên lạc Đ đi trộm cắp tài sản nên tịch thu sung công quỹ.
  • - Đối với 01 USB màu trắng chứa hình ảnh liên quan đến vụ trộm cắp tài sản (đã được đính kèm trong hồ sơ).

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Vĩnh Đ, Nguyễn Nhật L phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Vĩnh Đ 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2024.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Nhật L 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2024.

- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Giao Cơ quan Thi hành án Quận 12 thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen bạc, biển số 64T1-2835, số khung RLCS5C6308Y115620, số máy 5C63115620. Sau thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên, nếu xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp

8

thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung quỹ nhà nước.

  • + Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020, Imei: 862208040372050 (đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, số Imei: 355690071832983 (đã qua sử dụng).

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 130/QĐ-VKS ngày 09/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Huỳnh Vĩnh Đ, Nguyễn Nhật L mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh (1b);
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh (1b);
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh (1b);
  • - Phòng PC53 Công an Thành phố Hồ Chí Minh (1b);
  • - VKSND Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan điều tra Công an Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan THAHS Công an Quận 12 (1b);
  • - Chi cục THA dân sự Quận 12 (1b);
  • - UBND phường nơi cư trú của bị cáo (1b);
  • - Bị cáo (1b);
  • - Những người tham gia tố tụng khác (2b);
  • - Bộ phận THA hình sự (5b);
  • - Lưu hồ sơ, văn thư (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đặng Thuỳ Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 02/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 138/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger