Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 138/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25-3-2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngân, bà Trần Ngọc Anh

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thái Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 08/2025/TLST-HNGĐ ngày 06/01/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/02/2025 và quyết định hoãn phiên toà số: 19/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05/3/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Phan Thị Ngọc N, sinh năm 1978, nơi cư trú: tổ A, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (yêu cầu vắng mặt).
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1975, nơi cư trú: số B, ấp H, xã T, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện:

Bà và ông Nguyễn Hữu Q là vợ chồng vào năm 2000, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang (Giấy chứng nhận kết hôn số 317 ngày 11/12/2012). C sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, do ông Q cờ bạc, không phụ lo tiền bạc, kinh tế trong gia đình, không quan tâm chăm sóc vợ con. Mặc dù nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được, thường xuyên cự cãi nhau, chính thức ly thân từ năm 2024 đến nay. Yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hữu Q. Quá trình chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Phan Phú T, sinh năm 2004 (đã thành niên), không yêu cầu giải quyết và Nguyễn Phan Anh T1, sinh ngày 01/3/2014 đang sống với bà N, yêu cầu được tiếp tục nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung (phải thu, phải trả) không có.

Đối với bị đơn: Tòa án đã triệu tập để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần để xét xử, nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do, nên không ghi nhận được ý kiến.

Tòa án tiến hành lấy lời khai của bà Phan Thị Bích T2 (chị ruột của bà N) cho biết: Khoảng năm 2020, Q đi làm xa tại tỉnh Bình Dương, vài tháng hoặc có công việc thì Q mới về nhà tại xã M, huyện C, tỉnh An Giang, thời gian chung sống vợ chồng N – Quyện có cự cãi chuyện gia đình do Q cờ bạc, dù có làm ra tiền thì cũng dùng để chơi cờ bạc, không phụ chăm lo vợ con, Q nhiều lần hứa nhưng vẫn không sửa đổi và giữa năm 2024 đến nay, đã ly thân không còn sống chung. Vợ chồng N – Quyện có 02 con chung tên Nguyễn Phan Phú T, sinh năm 2004 và Nguyễn Phan Anh T1, sinh ngày 01/3/2014, cháu T1 do N đang nuôi dưỡng từ khi ly thân đến nay.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân

Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham dự phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt cho thấy bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Ngọc N được ly hôn với ông Nguyễn Hữu Q. Con chung tên Nguyễn Phan Phú T đã thành niên và lao động được nên không xem xét. Giao con chung Nguyễn Phan Anh T1, sinh ngày 01/3/2014 cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng, bà N tự nguyên không yêu cầu cấp dưỡng nên ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung tự thỏa thuận nên không xem xét, nợ chung không có nên không xem xét. Bà N phải chịu án phí hôn nhân theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    • [1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện P, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân gia đình “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • [1.2]Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà N có yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Q đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bà N, ông Q.
  2. Về nội dung:
    • [2.1] Về yêu cầu ly hôn: Bà N và ông Q là vợ chồng có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp, nhưng quá trình chung sống không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn và đã ly thân từ giữa năm 2024 đến nay, Tòa án đã triệu tập ông Q để tham gia hòa giải, xét xử nhưng ông không đến, bà N cương quyết ly hôn, nên chấp nhận cho bà N được ly hôn với ông Q là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
    • [2.2] Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Phan Phú T, sinh năm 2004 và Nguyễn Phan Anh T1, sinh ngày 01/3/2014. Do T đã thành niên, có khả năng lao động nên không xem xét. Nguyễn Phan Anh T1 do bà N nuôi dưỡng sau khi ly thân đến nay. Để đảm bảo môi trường phát triển của con được ổn định, thuận lợi trong việc học tập, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, tiếp tục giao con chung Nguyễn Phan Anh T1 cho bà N nuôi dưỡng, bà N tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nên ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
    • [2.3] Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
    • [2.4] Về nợ chung: Ghi nhận bà N xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà N, ông Q phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà N phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, ông Q không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 238, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Ngọc N.

  1. Về hôn nhân: Bà Phan Thị Ngọc N được ly hôn với ông Nguyễn Hữu Q.
  2. Về con chung: Nguyễn Phan Phú T, sinh năm 2004 đã thành niên và lao động được nên không xem xét. Nguyễn Phan Anh T1, sinh ngày 01/3/2014 do bà N đang nuôi dưỡng.

Giao bà Phan Thị Ngọc N trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Phan Anh T1, sinh ngày 01/3/2014 đến thành niên và lao động được. Ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, bà N cùng các thành viên gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Q.

Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay việc cấp dưỡng cho con.

  1. Về tài sản chung: tự thỏa thuận nên không xem xét.
  2. Về nợ chung: Ghi nhận bà N xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà N và ông Q phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phan Thị Ngọc N phải chịu án phí ly hôn 300.000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0011725 ngày 30/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Ông Nguyễn Hữu Q không phải chịu án phí.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - UBND xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 138/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Phan Thị Ngọc N yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hữu Q, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger