|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 138/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20/6/2025
V/v: Tranh chấp về ly hôn,
nuôi con chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tố Như
Hội thẩm nhân dân: Ông Đầu Khắc Dinh
Ông Trần Viết Ty
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Văn Chùy - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 về việc: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung khi hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2025/QĐXX-ST ngày 05 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 111/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2025, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Dương Thị N, sinh năm 1984
- Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
- * Bị đơn: Anh Triệu Văn Đ, sinh năm 1984
- Đăng ký HKTT và địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
- Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Dương Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Chị Dương Thị N và anh Triệu Văn Đ kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn ngày 14/9/2006 tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa do hai bên tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức hôn lễ theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng không có tình cảm với nhau. Đến năm 2016 chị N và anh Đ sống ly thân, không liên lạc với nhau. Hiện nay anh Đ đã đi lao động xuất khẩu tại Đài Loan nhưng chị N không biết địa chỉ cụ thể. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không hàn gắn được, trách nhiệm gia đình không còn, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài để đảm bảo được quyền và lợi ích của các bên. Vì vậy, chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Triệu Văn Đ.
Về con: Chị N và anh Đ có 02 con chung là cháu Triệu Duyên C, sinh năm 2006 đã thành niên và cháu Triệu Hải Đ1, sinh ngày 27/6/2015. Hiện tại cháu Đ1 đang ở bên nội. Chị N nhường quyền nuôi con cho anh Đ và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000đ/tháng. Nếu anh Đ không muốn nuôi con thì chị N nhận nuôi cháu Đ1 và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản: Chị N không yêu cầu giải quyết.
- - Về công nợ: Chị N không yêu cầu giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai các ngày 20/3/2025 và ngày 25/3/2025 bà Nguyễn Thị T (là mẹ đẻ của anh Triệu Văn Đ) trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Dương Thị N và anh Triệu Văn Đ kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 14/9/2006. Sau khi kết hôn thì vợ chồng ở cùng gia đình bà tại thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Trong thời gian chung sống vợ chồng anh Đ và chị N có mâu thuẫn hay không và mâu thuẫn như thế nào thì bà không biết. Từ năm 2016 chị N không ở cùng gia đình bà. Khoảng tháng 3 năm 2019 anh Đ có đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan đến nay chưa về. Bà T chỉ biết hiện nay anh Đ đang làm việc, sinh sống tại Đài Loan nhưng địa chỉ cụ thể thì bà không biết. Anh Đ vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình với bà và người thân trong gia đình qua điện thoại. Anh Đ có biết chị N làm đơn ly hôn nên anh Đ cũng đồng ý. Việc chị N xin ly hôn anh Đ thì bà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về con: Chị N và anh Đ có 02 con chung là cháu Triệu Duyên C, sinh năm 2006 đã thành niên và cháu Triệu Hải Đ1, sinh ngày 27/6/2015. Vợ chồng chị N và anh Đ ly hôn thì đề nghị Tòa án xem xét nguyện vọng của các cháu.
- Về tài sản và công nợ: Chị N và anh Đ có tài sản hay công nợ gì chung hay không thì bà không biết.
Bà T xin nhận tất cả các văn bản của Tòa án giao cho anh Đ và sẽ có trách nhiệm giao hoặc thông báo cho anh Đ biết.
Tại đơn ghi nguyện vọng cháu Triệu Hải Đ1 trình bày: Cháu là con của bố Đ và mẹ N. Nếu bố mẹ ly hôn, cháu xin được ở với bố, mẹ.
Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, trong quá trình thụ lý, giải quyết đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Khoản 1 Điều 28; Khoản 3 Điều 35; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9; Khoản 1 Điều 56; Các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Dương Thị N.
Về hôn nhân: Chị Dương Thị N được ly hôn anh Triệu Văn Đ.
- Về con chung: Công nhận anh chị có 02 con chung là cháu Triệu Duyên C, sinh năm 2006 đã thành niên và cháu Triệu Hải Đ1, sinh ngày 27/6/2015. Giao cháu Triệu Hải Đ1 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Đ không phải đóng góp tiền nuôi con cùng chị N.
- Về tài sản và công nợ chung: Tòa án không xem xét.
- Về án phí: Chị N chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Tranh chấp giữa nguyên đơn chị Dương Thị N và anh Triệu Văn Đ là: Tranh chấp về Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn. Bị đơn có địa chỉ trước khi xuất cảnh là thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú hiện nay là Đài Loan. Tại công văn số: 398/XNC (T3) ngày 27/02/2025 của Phòng Q1 Công an tỉnh T cung cấp cho Tòa án: Anh Triệu Văn Đ, sinh ngày 09/9/1984, CCCD số [...] có thông tin xuất cảnh ngày 27/3/2019 qua cửa khẩu quốc tế N1 bằng hộ chiếu C6834326, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/3/2025 và ngày 25/3/2025 đối với bà Nguyễn Thị T (mẹ đẻ của anh Triệu Văn Đ) xác nhận anh Đ đi lao động tại Đài Loan từ tháng 3 năm 2019 đến nay chưa về, vì vậy có căn cứ xác định hiện nay anh Đ đang ở Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án triệu tập anh Đ2 anh Đ vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp các giấy tờ, văn bản của Tòa án cho người thân của anh Đ là bà Nguyễn Thị T - mẹ đẻ của anh Đ. Ngày 02/6/2025 Tòa án đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất anh Đ vắng mặt nên phải hoãn phiên tòa. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp và tiến hành niêm yết công khai quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật nhưng tại phiên tòa xét xử vụ án anh Đ vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy anh Triệu Văn Đ cố tình lần tránh, gây khó khăn cho việc giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào khoản 2 Điều 177; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án lần thứ hai vắng mặt bị đơn anh Triệu Văn Đ. Đối với chị Dương Thị N, sau khi nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, chị N đã có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vụ án vắng mặt chị N.
[2]. Về nội dung:
* Về hôn nhân: Chị Dương Thị N và anh Triệu Văn Đ kết hôn năm 2006 trên cơ sở hai bên tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức hôn lễ, ngày 14/9/2006 đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Như vậy là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, HĐXX nhận thấy:
Sau khi kết hôn Chị Dương Thị N và anh Triệu Văn Đ sinh sống tại gia đình anh Đ tại thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Trong cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nên vợ chồng sống ly thân. Anh Đ đã đi lao động tại Đài Loan từ tháng 3 năm 2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Anh Đ có biết việc chị N làm đơn xin ly hôn nhưng cũng không thiết tha níu kéo mà có thái độ bỏ mặc. Như vậy chứng tỏ cuộc sống hôn nhân của vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên, HĐXX nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thị N là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
* Về con: Chị Dương Thị N và anh Triệu Văn Đ có 02 con chung là cháu Triệu Duyên C, sinh năm 2006 đã thành niên và cháu Triệu Hải Đ1, sinh ngày 27/6/2015. Vợ chồng ly hôn, chị N nhường quyền nuôi con cho anh Đ và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000đ/tháng. Nếu anh Đ không muốn nuôi con thì chị N nhận nuôi cháu Đ1 và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Bản thân cháu Đ1 có mong muốn được ở cùng bố, mẹ. Hiện tại anh Đ vẫn đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan còn cháu Như Q thì đang ở cùng bên nội. Xét nguyện vọng nuôi con của chị N là chính đáng, bởi lẽ cháu Hải Đ1 đang ở độ tuổi tâm, sinh lý chưa ổn định nên rất cần sự chăm sóc, dạy dỗ trực tiếp từ người cha hoặc mẹ. Từ những phân tích trên, xét thấy cần giao cháu Triệu Hải Đ1 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Việc chị N không yêu cầu anh Đ đóng góp nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên cân được chấp nhận.
* Về tài sản và công nợ: Chị Dương Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị Dương Thị N là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; Khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 177; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị N đối với bị đơn anh Triệu Văn Đ.
Xử: Vắng mặt chị Dương Thị N và anh Triệu Văn Đ.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Dương Thị N được ly hôn anh Triệu Văn Đ.
2. Về con: Giao cháu Triệu Hải Đ1, sinh ngày 27/6/2015 là con chung của vợ chồng cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Buộc chị Dương Thị N phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số: 0000585 ngày 18/3/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chấp nhận đã nộp đủ.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Dương Thị N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Anh Triệu Văn Đ được quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Tố Như |
Bản án số 138/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung.
- Số bản án: 138/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
