TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 138/2025/HNGĐ-ST
Ngày 18 – 11 – 2025
Về việc xin ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Ông Nguyễn Văn Nhi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Như - là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau tỉnh Cà Mau.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 219/2025/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2015/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Anh T, sinh năm 1996; Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 28/4/2021 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: Áp C, xã P, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Trần Quang V, sinh năm 1990; Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 21/9/2021.(vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Số B, Lê Vĩnh H, khóm H, Phường L, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trình bày của chị Trần Anh T trong quá trình giải quyết vụ án, được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Quang V kết hôn với nhau vào năm 2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (Nay là xã P, tỉnh Cà Mau), số chứng nhận kết hôn 54 vào ngày 29/8/2022. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn về kinh tế gia đình, không có tiếng nói chung, hay cải vã không thể nào hàn gắn được. Vợ chồng đã ly thân nhau hơn 06 tháng nay nên chị yêu cầu ly hôn với anh V.
Về con chung: vợ chồng có 01 người con chung tên Trần Khả N, sinh ngày 22/02/2023, hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi con Trần Khả N, không yêu cầu anh V cấp dưỡng, anh V có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị xác định đã tự thỏa thuận xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị xác định không có.
Tại bản tự khai và trình bày của anh Trần Quang V trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện:
Anh xác định về thời gian chung sống, điều kiện kết hôn, nơi đăng ký kết hôn đúng như chị T trình bày. Trong thời gian chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do anh mâu thuẫn với bên gia đình nhà chị T, vợ chồng bất đồng quan điểm, nhưng mâu thuẫn không lớn. Vợ chồng ly thân năm 2024 nhưng đã quay về sống với nhau và đã ly thân hơn 01 tháng nay. Hiện nay anh vẫn còn tình cảm với chị T nên mong muốn hàn gắn; anh sẽ thay đổi bản thân, lo làm kinh tế phụ giúp vợ nuôi dạy con cái.
Về con chung: Có 01 người con chung tên Trần Khả N, sinh ngày 22/02/2023, hiện đang sống chung với chị T. Khi ly hôn anh yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu chị T cấp dưỡng. Trường hợp chị T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung thì không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con do chị T không có yêu cầu cấp dưỡng. Anh V có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Anh xác định đã tự thỏa thuận xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh V xác định không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Nội dung tranh chấp được xác định là xin ly hôn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Quang V đã được Toà án triệu tập hợp lệ, anh Trần Quang V vẫn vắng mặt, căn cứ Điều 227, 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với anh Trần Quang V.
[3] Về yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Anh T, xét thấy, chị T và anh Trần Quang V đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 29/8/2022 tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (Nay là xã P, tỉnh Cà Mau), số chứng nhận kết hôn 54, nên hôn nhân được xác định là hợp pháp. Chị T cho rằng, vợ chồng đã có mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường hay cải vã, anh V không chăm lo cho vợ con, mâu thuẫn kinh tế gia đình, không thể hàn gắn, anh chị đã có thời gian ly thân trên 06 tháng, được gia đình hai bên hàn gắn và về sống chung với nhau được khoản 01 tháng thì tiếp tục mâu thuẫn và tiếp tục ly thân, xác định không thể chung sống với nhau nên chị T mới khởi kiện xin ly hôn. Đối với ông Trần Quang V có yêu cầu được hàn gắn, tuy nhiên, Toà án triệu tập hợp lệ để xét xử nhưng anh Trần Quang V vẫn không đến Tòa án tham gia nên không có cơ hội tiếp tục hoà giải với chị T.
Tại phiên toà chị Trần Anh T xác định mâu thuẫn giữa chị và anh V đã nghiêm trọng, không có cơ hội hàn gắn, hiện chị cũng không còn tình cảm với anh V, kiên quyết xin ly hôn nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời trình bày của chị Trần Anh T. Xác định hôn nhân giữa chị Trần Anh T và anh Trần Quang V không thể hàn gắn do mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận giải quyết cho chị Trần Anh T ly hôn với anh Trần Quang V.
[4] Về con chung, chị T và anh V có 01 con chung tên Trần Khả N, sinh ngày 22/02/2023, hiện nay con đang sống với chị T. Chị T yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh V cấp dưỡng. Anh V xác định nếu ly hôn anh yêu cầu nuôi con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng. Tại phiên toà chị T trình bày chị có công việc và thu nhập ổn định từ nghề Kế Toán, con anh V đã biết được nội dung chị T yêu cầu được nuôi con nhưng vẫn không tham gia phiên toà để bảo vệ cho yêu cầu của anh V. Mặt khác, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “...Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng.”. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con cho chị T trực tiếp nuôi, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Anh Trần Quang V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
[6] Về nợ chung: Chị T và anh V xác định không có.
[7] Án phí sơ thẩm: Chị Trần Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 147, 227, 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Anh T ly hôn với anh Trần Quang V
- Về con chung: Giao cháu Trần Khả N, sinh ngày 22/02/2023 cho chị Trần Anh T trực tiếp nuôi. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Anh Trần Quang V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Nợ chung: không có.
- Về án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình là 300.000đ, chị Trần Anh T phải nộp. Ngày 01 tháng 10 năm 2025, chị Trần Anh T đã nộp tiền tạm ứng án phí số tiền 300.000đ theo biên lai thu số 0000666 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển thu đối trừ, chị T đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Chị Trần Anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Quang V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hà |
Bản án số 138/2025/HNGĐ-ST ngày 18/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn
- Số bản án: 138/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa ông V và bà Thư
