|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 138/2025/HNGĐ-ST Ngày: 03 - 4 - 2025 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Thái Thị Hồng Vân
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Đăng
Ông Võ Duy Bảo
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 541/2025/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024, về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155a/2025/QÐST- HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Poòng Thị H, sinh năm 1988; Địa chỉ: Xóm H, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức H1, sinh năm 1986; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thị H3; Địa chỉ: Xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, chị Poòng Thị H trình bày: Chị Poòng Thị H và anh Nguyễn Đức H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 23/11/2009, tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian. Đến tháng 12 năm 2021, anh H1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, kể từ đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do khoảng cách địa lý nên tình cảm phai nhạt, quan điểm sống không hợp nhau và dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Nay nhận thấy vợ chồng thân ai người đấy lo, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn chị anh H1.
Về con chung: Chị và anh H1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Đức Tuấn T, sinh ngày 24 tháng 11 năm 2007 và cháu Nguyễn Đức Tuấn Q, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2013. Từ khi anh H1 đi nước ngoài đến nay, chị H phải đi làm xa nhà, 02 con chung đều ở và được ông Nguyễn Đức H2, bà Nguyễn Thị H3 (Là bố mẹ ruột của anh Nguyễn Đức H1) chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, vợ chồng ly hôn, để đảm bảo cuộc sống của các con từ trước tới giờ không bị xáo trộn, chị H có nguyện vọng giao cho anh H1 được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung đến khi trưởng thành. Do anh H1 đang ở nước ngoài, chị H đề nghị Tòa án tạm giao 02 con chung cho ông Nguyễn Đức H2, bà Nguyễn Thị H3 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh H1 về Việt Nam. Chị H và anh H1 tự thỏa thuận về vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Đức H1 trình bày: Anh và chị Poòng Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An ngày 23 tháng 11 năm 2009, theo tinh thần tự nguyện và không ép buộc. Sau khi kết hôn tình cảm vợ chồng hạnh phúc. Cuối năm 2021 anh đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Do xa cách nên tình cảm vợ chồng phai nhạt và phát sinh mâu thuẫn. Tình cảm vợ chồng rạn nứt, mục đích hôn nhân không đạt được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nay chị H làm đơn ly hôn thì anh cũng hoàn toàn đồng ý.
Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Đức Tuấn T, sinh ngày 24 tháng 11 năm 2007 và cháu Nguyễn Đức Tuấn Q, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2013. Từ khi anh đi nước ngoài đến nay, chị H cũng thường xuyên đi làm xa nhà, thời gian làm việc nhiều vì vậy 02 con chung đều ở và được ông Nguyễn Đức H2, bà Nguyễn Thị H3 (là bố mẹ ruột của anh H1) chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay chị H sống và làm việc tại Bắc Giang và không có thời gian chăm sóc hai cháu. Để bảo đảm lợi ích về mọi mặt cho các con anh có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung đến lúc con đủ 18 tuổi, trưởng thành và thống nhất nhờ Tòa tạm thời giao 02 con chung cho ông Nguyễn Đức H2, bà Nguyễn Thị H3 (Là bố mẹ ruột của anh H1) chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi anh về Việt Nam. Về cấp dưỡng nuôi con, anh H1 và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản chung và nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do anh đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan nên anh ủy quyền cho ông Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thị H3; địa chỉ: Xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An thay anh nộp và nhận các văn bản của Tòa án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thị H3:
Ông, bà là bố mẹ ruột của bị đơn anh Nguyễn Đức H1. Cuối năm 2021 anh H1 đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Đến nay, 02 con chung của anh H1 và chị H là cháu Nguyễn Đức Tuấn T, sinh ngày 24 tháng 11 năm 2007 và cháu Nguyễn Đức Tuấn Q, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2013 đều ở với ông H2, bà H3 tại xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An và được ông, bà chăm sóc nuôi dưỡng. Do chị H cũng hay đi làm xa, không có thời gian chăm sóc con cái nên gửi 02 con chung cho ông, bà chăm sóc.
Nay nếu vợ chồng H1 và H ly hôn, ông H2 bà H3 đồng ý và cam kết sẽ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng dạy bảo tốt 02 con chung của anh H1 và chị H đến lúc bố các cháu là Nguyễn Đức H1 về Việt Nam. Ông, bà không yêu cầu H1 và H thanh toán chi phí công sức nuôi dưỡng các cháu từ trước đến nay và đồng ý tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu cho đến khi H1 về nước và cũng không yêu cầu bố mẹ cháu cấp dưỡng.
Tại đơn trình bày nguyện vọng của các cháu Nguyễn Đức T1 Q và cháu Nguyễn Đức T1 T: Các cháu là con của mẹ Poòng Thị H, bố Nguyễn Đức H1. Nếu bố mẹ ly hôn, các cháu có nguyện vọng được ở cùng với bố hoặc tiếp tục ở với ông nội Nguyễn Đức H2 và bà nội Nguyễn Thị H3 tại xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Chị Poòng Thị H cư trú tại huyện V, tỉnh Bắc Giang làm đơn khởi kiện ly hôn với anh Nguyễn Đức H1 có hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh ở xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Hiện anh H1 nay đang cư trú tại huyện B, Đài Loan (Trung Quốc). Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Poòng Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Đức H1 gửi bản tự khai có chứng thực của Văn phòng K tại Đ về cho Tòa án và đề nghị Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thị H3 có đơn trình bày ý kiến và đồng thời đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Poòng Thị H và anh Nguyễn Đức H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn do khoảng cách địa lý xa xôi, bất đồng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung. Hiện tại, chị H và anh H1 đều xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H làm đơn ly hôn anh H1 cũng đồng ý. Vì vậy, cần chấp nhận cho chị Poòng Thị H và anh Nguyễn Đức H1 được ly hôn là phù hợp với Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.
[3.2] Về con chung: Chị Poòng Thị H và anh Nguyễn Đức H1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Đức Tuấn T, sinh ngày 24 tháng 11 năm 2007 và cháu Nguyễn Đức Tuấn Q, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2013. Từ trước đến nay, các cháu vẫn đang ở với được ông Nguyễn Đức H2, bà Nguyễn Thị H3 (Là bố mẹ ruột của anh H1) tại xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.
Xét thấy, tại bản tự khai và đơn trình bày của nguyên đơn chị Poòng Thị H, bị đơn anh Nguyễn Đức H1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thị H3, đều thống nhất nội dung từ khi anh H1 đi nước ngoài đến nay, chị H hay đi làm xa nhà, 02 con chung đều được ông Nguyễn Đức H2, bà Nguyễn Thị H3 (Là bố mẹ ruột của anh H1) chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị chị Poòng Thị H, bị đơn anh Nguyễn Đức H1 thống nhất đề nghị Tòa án giao hai con chung cho anh Nguyễn Đức H1 chăm sóc nuôi dưỡng nên cần chấp nhận.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh H1 không yêu cầu nên không xem xét.
Do anh Nguyễn Đức H1 hiện nay đang ở nước ngoài, các con chung đã sống với bố mẹ anh H1 từ năm 2021 đến nay, nên anh có nguyện vọng nhờ bố mẹ anh tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu trong thời gian anh ở nước ngoài. Ông Nguyễn Đức H2, bà Nguyễn Thị H3 cũng đồng ý tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu trong thời gian anh H1 ở nước ngoài. Việc anh H1 ủy quyền cho bố mẹ đẻ của anh trực tiếp chăm sóc các cháu phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật dân sự 2015, khoản 2, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên cần ghi nhận sự thỏa thuận này.
[3.3] Tài sản chung và nợ chung: Chị Poòng Thị H, anh Nguyễn Đức H1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
[4] Về chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu: Ông Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thị H3 không yêu cầu chị H, anh H1 thanh toán nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Poòng Thị H, Nguyễn Đức H1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 2 Điều 52 Bộ luật dân sự 2015; Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Poòng Thị H và anh Nguyễn Đức H1.
- - Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Đức Tuấn T, sinh ngày 24 tháng 11 năm 2007 và cháu Nguyễn Đức Tuấn Q, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2013 cho anh Nguyễn Đức H1 chăm sóc, nuôi dưỡng đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
- Sau khi ly hôn, chị Poòng Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Ghi nhận sự thỏa thuận của anh Nguyễn Đức H1 và ông Nguyễn Đức H2, bà Nguyễn Thị H3 về việc ông H2, bà H3 sẽ thay anh H1 chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Nguyễn Đức Tuấn T, cháu Nguyễn Đức T1 Q cho đến khi anh H1 về nước.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Poòng Thị H phải chịu 75.000 (Bảy mươi lăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013518 ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Trả lại cho chị Poòng Thị H số tiền 225.000 (Hai trăm hai mươi lăm ngàn) đồng còn lại. Anh Nguyễn Đức H1 phải chịu 75.000 (Bảy mươi lăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Chị Poòng Thị H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật. Anh Nguyễn Đức H1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thái Thị Hồng Vân |
6
Bản án số 138/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 138/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Poòng Thị H và anh Nguyễn Đức H1.
