TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 138/2025/DSPT
Ngày: 12/12/2025
V/v Tranh chấp Quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
· Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trương Thị Anh |
| Các Thẩm phán: | Ông Lê Văn Quân |
| Bà Lê Thị Phương Thanh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Xuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 09 và 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 116/2025/TLPT-DS ngày 29/10/2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 08/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3- Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 113/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 46/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 11 năm 2025; giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1976
Địa chỉ : Số B, thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng D, sinh năm 1960
Bà Trịnh Thị N1, sinh năm 1961.
Cùng địa chỉ: Số B, thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo ủy quyền của bà N1: Ông Nguyễn Trọng D
(Theo giấy ủy quyền ngày ngày 11 tháng 12 năm 2023)
Người đại diện theo uỷ quyền của ông D: Anh Tạ Huy D1, sinh năm 2000
Địa chỉ: Số C Đ, phường Y, Thành phố Hà Nội
và anh Nguyễn Chí N2, sinh năm 2001
Địa chỉ: TDP Q, phường V, tỉnh Phú Thọ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1948
Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
- Chủ tịch UBND xã T, tỉnh Thanh Hóa: Ông Vũ Văn B
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trọng D2- Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã T. (Theo văn bản ủy quyền số 755 ngày 28/8/2025).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện, các tài liệu trong hồ sơ và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N trình bày:
Ngày 20 tháng 11 năm 1997 ông Nguyễn Văn H là bố đẻ chị N có làm đơn xin đất, đã được Đảng ủy -UBND xã D cùng ban địa chính xét duyệt cấp đất không thu tiền đất ở. Ngày 16 thán 06 năm 1998 chị Nguyễn Thị N được ủy ban nhân dân xã D về đo đạc, giao đất và lập biên bản giao đất ở có xác nhận của UBND xã. Mảnh đất chị N được UBND xã giao là một mảnh ao bỏ rậm, bỏ hoang nằm độc lập với ba bên tiếp giáp đường giao thông thôn, 01 bên giáp mương tiêu nước của thôn, đất thuộc quyền quản lý của UBND xã, không tranh chấp. Vị trí đất thuộc khu vực xóm D, thôn T có diện tích đo đạc thực tế bằng 168 m², diện tích chị N được UBND xã D bàn giao bằng 150m², diện tích đất còn lại để mở rộng mặt thoáng đường giao thông. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đường thôn; Phía Tây giáp đường thôn; Phía Đông giáp đường thôn; Phía Nam giáp ao cơ bản nhưng thực tế là giáp mương thoát nước (vì mương thoát nước được làm từ năm 1994).
Theo bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2002 và số mục kê xã D, mảnh đất nêu trên có thửa số 950, tờ bản đồ số 8, diện tích bằng 250m², tên chủ sử dụng là Nguyễn Thị N. Năm 2010 thể hiện trên bản đồ địa chính của UBND xã D thửa đất số 597, tờ bản đồ số 22, diện tích bằng 186,1m² tên chủ sử dụng là Nguyễn Văn S là chú ruột chị N, do năm 2010, năm 2011 chị N thường xuyên ốm đau, bản thân lại ly hôn chồng, nên phải vào nhà mẹ đẻ để ở, nhà và đất nêu trên chị N nhờ ông S ở để trông coi, vì vậy khi đăng ký tên trên hồ sơ địa chính của xã, UBND xã đã viết tên ông S.
Về việc sử dụng và xây dựng các công trình trên đất: Năm 1998 chị N nhận đất, do đây là mảnh đất bỏ hoang (người dân trong làng gọi là bùng rặm, tức là đất bỏ rặm, khu đất bỏ hoang nên bà con hay đổ rác vào). Sau khi nhận đất, chị N đã tiến hành san lấp toàn bộ khu đất ( bao gồm cả diện tích đất làm mặt thoáng đường giao thông), riêng phần phía Tây nam chị N có đổ đất, nhưng chưa được cao và bằng phẳng, do điều kiện kinh tế khó khăn, nên đến năm 2000 chị N tiến hành xây móng nhà diện tích khoảng 50 m², đến năm 2011 tiến hành xây dựng nhà cấp 4, công trình phụ và xây dựng tường rào và cổng phía Đông Bắc và Tây nam, còn lại một phần phía T và hướng Tây Nam chị N mới làm móng tường, còn phía Đông Nam giáp con mương thoát nước, nên chị N không xây tường rào. Nhà và công trình phụ chị N xây dựng trên đất có diện tích khoảng 95,7 m². Vì mảnh đất nằm độc lập 03 phía đều giáp ngõ (đường giao thông thôn) nên khi xây dựng tường rào và móng tường bao quanh chị N cũng đã trừ ra một phần đất để cho đường thoáng và rộng rãi hơn. Hiện nay đường giao thông quanh khu nhà đất của chị N đều rộng rãi.
Về việc ông D lấn chiếm đất của chị N: Kể từ năm 1998 sau khi chị N được UBND xã bàn giao đất, ông D vẫn có mặt ở nhà, biết việc chị được UBND xã bàn giao đất, ông D còn đề nghị gia đình chị bán lại diện tích đất cho ông nhưng gia đình chị không đồng ý. Sau khi làm nhà và tường rào do phía Tây Nam là phần đất đang để trống, nên kể từ năm 2011 ông D đã lấn chiếm tổng diện tích 90,4 m² (thể hiện trên sơ đồ hiện trạng sử dụng do UBND xã D lập ngày 13/7/2023). Năm 2011 sau khi xây nhà, tường rào và móng tường xong, chị N đi chữa bệnh, lợi dụng lúc chị N đi chữa bệnh, một phần phía T và toàn bộ phần đất phía Tây Nam chị N chưa xây bao quanh tường rào (chỉ xây móng tường được gần hết khu đất), nên vợ chồng ông D và bà N1 đã đổ thêm đất chồng lên phần móng tường rào, đổ thêm đất phía Tây Nam nhà chị N (ở đằng sau nhà chị) và trồng cây cối lên đất nhà chị N, nhiều lần chị N yêu cầu ông D chặt cây, trả lại đất cho chị N nhưng vợ chồng ông D không đồng ý, chị đã làm đơn lên UBND xã, UBND xã hòa giải nhưng không thành.
Về diện tích đất thực tế và yêu cầu của chị N: Chị N khẳng định, từ năm 1998 đến năm 2011 chị N vẫn sử dụng liên tục, ổn định trên diện tích đất mà UBND xã D (nay là UBND xã T) bàn giao tổng bằng 168m² trong đó có đất chị được bàn giao bằng 150 m², diện tích đất còn lại bằng 18m² để mở rộng đường giao thông. Việc thửa đất của chị được thể hiện trên sổ địa chính và số mục kê năm 2011 của UBND xã mang tên ông S là do sai xót khi lập hồ sơ, vì chị không chuyển nhượng cho ông S mà chỉ nhờ ông S trông coi khu đất. Kể từ năm 2011 đến nay gia đình ông D lấn chiếm một phần diện tích đất để trồng cây trên đất.
Theo đơn khởi kiện ngày 20/9/2023 chị N yêu cầu ông D phải trả lại cho chị diện tích đất bằng 90,4 m² (thể hiện trên sơ đồ hiện trạng sử dụng do UBND xã D lập ngày 13/7/2023), chị N xác định đây diện tích ông D đang sử dụng nằm trong tổng diện tích 186,1 m², tại thửa đất số 597, tờ bản đồ số 22, bản đồ địa chính đo vẽ năm 2011.
Tại phiên tòa cũng như trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, ngày 9/9/2025 chị N đã có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện. Chị N xác định diện tích chị N được UBND xã D (nay là UBND xã T) bàn giao 150 m², nên chị chỉ nhận 150 m², diện tích đất còn lại dùng để làm mặt thoáng đường giao thông. Hiện nay diện tích đất thực tế tăng so với thời điểm bàn giao đất là do sai số đo đạc (năm 1998 khi UBND xã giao đất cho chị đo bằng thước dây).
Theo kết quả thẩm định tại chỗ của Tòa án, hiện nay chị N đang sử dụng diện tích 108,4 m², ông D đang sử dụng 77,5 m². Vì vậy chị N cầu ông D, bà N1 phải trả lại diện tích ông, bà đang lấn chiếm của chị N bằng 41,6 m² vì đây là diện tích trong tổng 150m² mà chị được UBND xã D bàn giao năm 1998. Diện tích còn lại 35,9 m² mà hiện nay ông D đang sử dụng là mặt thoáng đường giao thông (là đất lưu không) thuộc quyền quản lý của UBND xã T theo quy định của pháp luật, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án vào tháng 8 năm 2025, ông D đã chặt cây trên đất, chỉ còn lại 03 cây sấu nhỏ của ông D trồng trên đất lấn chiếm của chị N. Chị N yêu cầu Tòa án buộc ông D phải chặt hoặc di dời 03 cây sấu để trả lại đất cho chị N. Chị N trình bày ông D là người tự ý đổ đất để lấn chiếm lên đất của chị N, nên chị N không có nghĩa vụ phải trả tiền đổ đất cho ông D.
Ý kiến của bị đơn là ông Nguyễn Trọng D và cũng là người đại diện theo ủy quyền của bà N1 trình bày và đề nghị như sau:
Ngày 28/06/1994, ông D được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD tại thửa số 412, tờ bản đồ số 8, diện tích 680m², đất ao hồ (nhưng thực tế ông D sử dụng tại thửa đất 411, tờ bản đồ số 08). Năm 1995 do ngập úng không có mương thoát nước cho mùa mưa, gia đình ông đã chấp hành chủ trương của UBND xã dân L làm mương tiêu để thóat nước cho nhân dân khu trong không phải chịu cảnh ngập úng. Khi làm mương tiêu thì ao hồ của ông D tách thành 02 ao, gồm ao to và ao nhỏ.
Ông D dồn điền đổi thửa 02 lần, lần 1 không nhớ rõ vào năm nào, lần hai vào năm 2008, khi dồn điền đổi thửa, diện tích, vị trí đất ao vẫn còn nguyên, không có sự thay đổi. Ông D vẫn sử dụng diện tích đất đất ao lớn (thửa 951, tờ bản đồ số 8, diện tích 599) và đất ao nhỏ, ao nhỏ không có nước nên ông không thả cá được mà chỉ trồng rau muống. Năm 1998 khi UBND xã bàn giao đất cho bà N vào phần ao nhỏ của gia đình ông D, ông D không được biết, không thấy có quyết định thu hồi đất, gia đình ông không được dồn điền đổi thửa. đến năm 2000 chị N lấp đất, làm móng nhà thì ông D không có mặt ở nhà, nên cũng không biết. Diện tích đất ông đang sử dụng (đất bà N đang tranh chấp) là phần ao nhỏ của ông.
Đến năm 2002 diện tích ao lớn có thửa 951, tờ bản đồ số 8, diện tích 599 m² loại đất ao. Năm 2004 thì ông D được Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 20/9/2004. Thửa này năm 2019 ông D đã chuyển nhượng QSD đất cho ông Tống Đình T và bà Luân Thị Thúy N3. Ông T, bà N3 đã được UBND huyện cấp giấy chứng nhận QSD đất. Một phần diện tích đất ao nhỏ diện tích đo đạc thực tế bằng 77,5m² hiện nay ông D vẫn đang tiếp tục quản lý, còn một phần đất trong ao nhỏ của ông, năm 1998 đã bị UBND xã đã cấp trái thẩm quyền cho chị N.
Quan điểm của ông D đề nghị Tòa án giải quyết:
Thứ nhất: Việc quản lý đất của chính quyền địa phương: Vào năm 1997, 1998 UBND xã D giao đất cho chị N không thu tiền, trong biên bản giao đất không hợp pháp, không thể hiện diện tích trích đo thửa đất được giao, không có số thửa, tờ bản đồ, không có ranh giới và mốc giới, không họp Hội đồng nhân dân, như vậy là giao đất trái thẩm quyền.
Thứ 2: Chị N được UBND xã giao đất năm 1998 chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước, đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, như vậy chị N không được sở hữu mảnh nói trên và không có quyền kiện ông D theo quy định của pháp luật.
Thứ 3: Gia đình ông D vẫn sử dụng diện tích đất ao nhỏ từ năm 1993, đến năm 1998 UBND xã cắt một phần diện tích cấp cho chị N (diện tích thẩm định, đo đạc thực tế bằng 108,4 m²). Diện tích đất còn lại (diện tích Tòa án đo thực tế khi thẩm định tại chỗ bằng 77,5m²) kể từ năm năm 1998 đến nay gia đình ông D vẫn đang quản lý, đắp đất, tôn tạo và sử dụng trồng cây trên đất. Nay ông D đã khai thác chặt cây trên đất đang tranh chấp, chỉ còn lại 03 cây sấu nhỏ.
Thứ 4: Khi chị N san lấp đất, làm móng nhà ông D không có mặt ở nhà, vì năm 2000 ông D vào miền N. Năm 2011 khi ông về nhà, thấy gia đình chị N xây dựng nhà, tường rào, ông D đã báo cáo với ông C trưởng thôn và làm đơn đến UBND xã D. Ngày 29/4/2011 UBND huyện T đã có công văn số 520 chuyển đơn khiếu nại của ông cho UBND xã D giải quyết nhưng kể từ năm 2011 đến nay ông D không được UBND các cấp chưa có trả lời và giải quyết.
Thứ 5: Về việc đổ đất san lấp một phần diện tích đất ao nhỏ còn lại (đất mà chị N đang tranh chấp): Năm 2011 khi chị N làm xong nhà và tường rào, ông D tiến hành đổ đất, san lấp đất diện tích ông đang sử dụng hiện nay, tại thời điểm đổ đất, đất còn trũng sâu, chị N khai đã san lấp một phần trên diện tích ông đang quản lý là không đúng, ông D đã đổ 140 khối đất trên diện tích 77,5m² như hiện nay, giá trị bằng 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) và công và vật liệu xây bờ mương kéo dài trên phần diện tích đất ông đang quản lý bằng 10 triệu đồng. Tổng bằng 50 triệu. Nếu Nhà nước thu hồi đất của ông phải trả tiền thu hồi diện tích đất theo quy định của pháp luật. Nếu chị N có căn cứ được Nhà nước giao diện tích bằng 150 m² thì phải lấy vào phần diện tích đất của ông bằng 41,6 m² thì ông đề nghị chị N phải trả cho ông số tiền đổ đất và làm mương bằng 40 triệu. Còn chị N được giao cả phần đất ông đang sử dụng, thì chị N phải trả cho ông D 50 triệu đồng và các cây trên đất thì ông đề nghị trả 5 triệu đồng. Quan điểm của ông D không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị N về việc yêu cầu Tòa án buộc ông phải trả lại đất cho chị N.
* Ý kiến của ông S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông là người sinh sống cùng thôn với ông D và chị N và cũng là chú ruột chị N. Từ trước năm 1994, diện tích đất mà chị N đang ở là mảnh đất bỏ hoang, không có hộ gia đình hoặc cá nhân nào quản lý, sử dụng. Năm 1998 chị N được UBND xã D giao đất, năm 2000 chị N xây móng nhà, năm 2011 chị N làm nhà, xây tường rào và móng tường bao quanh khu đất. Tại các thời điểm xây dựng, ông D đều có mặt ở nhà, ông D là hàng xóm nên khi chị N xây dựng công trình, ông D cũng hay đến để uống nước. Thời điểm đấy không thấy ông D có ý kiến gì. Năm 2011, sau khi chị N xây dựng xong nhà, tường rào phía T, còn lại khoảng 5m chiều dài về phía T và toàn bộ phía Tây Nam, chị N ốm đau, khó khăn về kinh tế, nên không xây tường rào được, mà chỉ xây một phần móng tường, đổ được một phần đất, thấy vậy, lợi dụng lúc chị N đi chữa bệnh, gia đình ông D đã đổ đất ở phần sau nhà chị N (phần đất phía T) và tiến hành rào dây thép B40 quanh khu đất, trồng cây trên đất để lấn chiếm vào phần đất của chị N. Cuối năm 2011 ông S ở trên đất của chị N để trông coi nhà đất cho chị N. Khi ông S ở trên đất ông không xây dựng hoặc sửa sang gì trên đất của chị N.
Năm 2011 ông đứng tên thửa đất trên bản đồ địa chính là do ông đang ở trên đất của chị N, việc ông đứng tên thửa đất của chị N trên bản đồ địa chính là do sai sót của UBND xã, ông S khẳng định thửa đất số 597, tờ bản đồ địa chính số 22, bản đồ địa chính xã D (cũ), là đất của chị N. Đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu của chị N.
* Ý kiến của Chủ tịch UBND xã T (trước ngày 01/7/2025 có ý kiến của UBND xã D và UBND huyện T) trả lời tại công văn số 2251, ngày 24/5/2024; Công văn số 09 ngày 8/5/2024 và Công văn số 655 ngày 20/8/2025.
Về hồ sơ địa chính của thửa đất qua các thời kỳ:
- Hồ sơ địa chính năm 1992 gồm: Thửa đất số 411 tờ bản đồ địa chính số 8, diện tích trên bản đồ 2869 m² bản đồ địa chính xã D lập năm 1992 thuộc loại đất Ao, chủ sử dụng đất HTX. Phía Bắc không có mương tiêu thoát nước.
- Hồ sơ địa chính năm 2000 gồm: Thửa đất số 411, tờ bản đồ địa chính số 8, diện tích trên bản đồ 2869 m² được tách thành 02 thửa:
- + Thửa thứ nhất: Thửa đất số 950, tờ bản đồ địa chính số 8, diện tích trên bản đồ 250 m² bản đồ địa chính xã D lập năm 2000 thuộc loại đất T1 Chủ sử dụng đất là chị Nguyễn Thị N. Số mục kê tại trang số 195, thửa đất số 95,0 tờ bản đồ số 8, diện tích 150 m² lập năm 2000 thuộc loại đất T1 Chủ sử dụng đất Nguyễn Thị N
- + Thửa thứ hai: Thửa đất số 951, tờ bản đồ địa chính số 8, diện tích trên bản đồ 3926 m² thuộc loại đất Ao. Phía Bắc đã thể hiện đường đi Năm 2004 Thửa đất số 951, tờ bản đồ địa chính số 8, diện tích trên bản đồ 3926 m² loại đất Ao, đã cấp giấy chứng nhận QSD đất cho 05 hộ gồm:
- Nguyễn Trọng D thửa đất số 951(1) tờ bản đồ số 8, diện tích 599 m² loại đất Ao.
- Nguyễn Hữu H1 thửa đất số 9512) tờ bản đồ số 8, diện tích 599 m² loại đất đất Ao.
- Nguyễn Hữu T2 thửa đất số 951(3) tờ bản đồ số 8, diện tích 599 m² loại Ao.
- Nguyễn Văn H thửa đất số 951(4) tờ bản đồ số 8, diện tích 599 m² loại đất Ao.
- Nguyễn Thị Q thửa đất số 951(5) tờ bản đồ số 8, diện tích 1530 m² loại đất Ao.
So sánh bản đồ năm 1992 diện tích 2869 m² và bản đồ năm 2000 diện tích 3926 m² và 250 m²; Tổng DT là 4176 m² thì diện tích có tăng lên là 1307 m² là do bản đồ năm 2000 đo đạc ghép một phần thửa đất số 407, tờ bản đồ số 8 vào thửa đất số 411, tờ bản đồ số 8 bản đồ năm 1992 nên diện tích có tăng lên 1307 m² là thực tế.
- Hồ sơ địa chính năm 2011: Năm 2011 thửa đất của chị N là thửa đất số 597 tờ bản đồ địa chính số 22 diện tích 186,1 m² bản đồ địa chính xã D lập năm 2011 thuộc loại đất ONT. Chủ sử dụng đất: Nguyễn Thị N và Nguyễn Văn S. Số mục kê lập năm 2011 tại trang số 79 tờ bản đồ số 22 thửa đất số 597 diện tích 186,1 m² thuộc loại đất ONT+CLN, Chủ sử dụng đất là: Nguyễn Văn S.
Về thửa đất số 951 tờ bản đồ số 8, diện tích 599 m² loại đất Ao, chủ sử dụng đất ông Nguyễn Trọng D. Thửa đất này ông D đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất vào ngày 20/9/2004, mục đích sử dụng: Đất ao; tương ứng là thửa số 1212, tờ bản đồ số 22, bản đồ đo đạc chỉnh lý thửa số 225-19/CL-BDĐC/2019 do văn phòng đăng ký QSD đất huyện T lập năm 2019 diện tích bằng 627 m². Đến ngày 04/7/2019 vợ chồng ông Nguyễn Trọng D làm thủ tục chuyển nhượng QSD đất cho ông Tống Đình T, bà Luân Thị Thúy N3 cùng thôn. Vợ chồng ông T, bà N3 đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 13/9/2019.
Qua kiểm tra sổ sách và hồ sơ địa chính của UBND xã cũng như báo cáo của nguyên trưởng thôn và nguyên bí thư thôn thời kỳ năm 2008-2009 cho thấy diện tích đất ao của ông D chỉ được giao một lần, không giao đổi điền, đổi thửa lần hai năm 2008-2009. Hiện trạng ông D đang sử dụng trong thửa đất số 597, tờ bản đồ số 22 bản đồ địa chính xã D (nay là xã T) năm 2011 mang tên chị N.
Nguồn gốc đất của ông D và bà N:
- Về đất của vợ chồng ông D: Nguồn gốc thửa đất của ông D và việc dồn điền đổi thửa đối với gia đình ông D: Năm 1993, ông Nguyễn Trọng D được giao đất Ao, thuộc đất khẩu của hộ gia đình theo Nghị định 64 của Chính phủ với diện tích ao là 680 m² vị trí là tại 1 phần diện tích thửa số 411 tờ bản đồ số 8 diện. Tuy nhiên, trên GCNQSDĐ số D0301896 do UBND huyện T cấp ngày 28/6/1994 lại cấp tại thửa 412, tờ bản đồ số 8 là cấp GCNQSDĐ nhầm số thửa. Đến năm 2002, xã D dồn điền đổi thửa lần 1, hộ ông Nguyễn Trọng D được giao tại vị trí tương ứng là 1 phần thửa đất số 951, tờ bản đồ 8, bản đồ chỉnh lý năm 2002 xã D, diện tích 599 m², mục đích sử dụng Ao, đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số AA 428834, số vào số 1615, ngày cấp 20/9/2004, tên chủ sử dụng đất: Hộ Ông Nguyễn Trọng D; tương ứng là thửa đất số 1212, tờ bản đồ số 22, Bản đo đạc chỉnh lý thửa đất số 225-19/CL-BĐDC/2019 do VPĐKQSDĐ huyện T (nay là CNVPĐKĐĐ huyện T), diện tích 627 m².
Ngày 04/7/2019 ông Nguyễn Trọng D và bà Trịnh Thị N1 đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 951, tờ bản đồ 8, bản đồ chỉnh lý năm 2002 xã D, diện tích 599 m², mục đích sử dụng Ao, đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số AA 428834, số vào số 1615, ngày cấp 20/9/2004, tên chủ sử dụng đất: Hộ Ông Nguyễn Trọng D tương ứng là thửa đất số 1212, tờ bản đồ số 22, Bản đo đạc chỉnh lý thửa đất số 225-19/CL-BĐDC/2019 do VPĐKQSDĐ huyện T (nay là CNVPĐKĐĐ huyện T), diện tích 627 m² cho ông Tổng Đình T3, bà Luân Thị Thúy N3, ngày 13/9/2019, UBND huyện đã cấp GCNQSDĐ đất số CT 348898, số vào sổ CH 004342, cho ông Tống Đình T, bà Luân Thị Thúy N3.
- Về nguồn gốc thửa đất của chị N: Ngày 20/11/1997 ông Nguyễn Văn H (bố đẻ chị Nguyễn Thị N) có đơn xin đất ở cho con gái chị Nguyễn Thị N) thuộc đối tượng nhiễm chất độc da cam, được UBND xã D xác nhận (ông Trịnh Đình P, Phó Chủ tịch UBND xã xác nhận ngày 20/5/1998). Ngày 16/6/1998, xã D có biên bản giao đất ở cho chị Nguyễn Thị N (Thành phần gồm: Ông Trịnh Đình P, Phó Chủ tịch UBND xã - Trưởng ban; ông Nguyễn Văn T4, cán bộ Địa chính xã và bà Nguyễn Thị N - chủ hộ); biên bản ghi các cạnh giáp ranh; phía Bắc giáp đường thôn, phía Tây giáp đường thôn, phía Đông Giáp đường thôn, phía Nam giáp ao cơ bản, diện tích đất được giao 150 m². Biên bản có đầy đủ chữ ký, họ tên của Phó Chủ tịch UBND xã - Trưởng ban, cán bộ địa chính xã và chủ hộ. Theo biên bản bàn giao đất ở ngày 16/6/1998 thửa đất bùng rặm có các phía Đông, T5, N2, B1 nhưng không có sơ đồ thửa đất được giao, không có kích thước các cạnh cụ thể mà có diện tích kiểm tra là 168 m², nay giao cho chị N 150 m², diện tích còn lại để mở rộng mặt thoáng đường giao thông.
Thửa đất chị N đang sử dụng thể hiện trên số mục kê xã D năm 2002, thửa đất số 950, tờ bản đồ số 08, bản đồ chỉnh lý năm 2002, diện tích 250 m²; thể hiện trên sổ mục kê năm 2010 xã D thửa đất số 597, tờ bản đồ số 22, bản đồ xã Dân Lực đo vẽ năm 2010 diện tích 186,1 m². Lý do tăng giảm diện tích giữa các lần đo đạc là khi đo đạc thựa tế đã đo theo bờ rào hiện trạng của hộ đang sử dụng. Diện tích thực tế chị N được UBND xã giao là 150m². Theo bản đồ năm 2011 thì đo đạc đã đo cả phần diện tích đường giao thông mà ông D đang trồng cây vào đất chị N sử dụng nên diện tích là 186,1 m²; Lý do của việc tăng diện tích là do khi đo đạc thực tế đã đo theo hiện trạng thực tế của hộ đang sử dụng.
Thửa đất đã được UBND xã và Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/12/2024, có tổng diện tích bằng 185,9 m². Diện tích đất thực tế mà chị N được UBND xã giao bằng 150 m². Đối với diện tích 35,9 m² còn dư trên trong phần đất chị N đang sử dụng, tạm thời tuyến đường GTNT đi vào ngõ ở phía Bắc, phía Tây thửa đất chị N chưa mở rộng đường GTNT nên cho đến nay UBND xã chưa lấy để mở rộng đường giao thông nông thôn.
* Ý kiến của những người làm chứng:
- Ý kiến của ông Trịnh Đình P (nguyên phó Chủ tịch xã D cũ): Năm 1997 ông H là bố của chị N có đơn xin đất cho chị N, sau đó thì hội đồng giao đất gồm: Chủ tịch UBND xã, bí thư, phó chủ tịch xã và các đoàn thể khác trong UBND xã đã họp và thống nhất giao đất ở khu bùng rặm. Diện tích đo đạc thực tế bằng 168 m², diện tích đất giao cho chị N bằng 150 m², diện tích đất còn thừa dùng để mở rộng mặt thoáng đường giao thông). Ngày 16/6/1998 khi giao đất thành phần giao đất đã tiến hành đo đạc bằng thước dây, sau đó lập biên bản bàn giao đất ở do ông là người đại diện UBND xã ký và đóng dấu.
- Ý kiến của ông T4 nguyên là địa chính xã: Thời điểm năm 1998, căn cứ vào đơn xin đất của ông H (bố chị N) UBND xã đã triệu tập các thành phần xét duyệt giao đất và thống nhất giao đất cho chị N tại khu bùng rặm ở thôn D, xã D (nay là thôn T, xã T). Khi tiến hành giao đất, ông T4 cùng với ông P đến khu đất để đo đạc và lập biên bản bàn giao đất cho chị N nội dung diện tích và tứ cận đã được thể hiện cụ thể trong biên bản bàn giao đất. Ý kiến của anh T6: Anh T6 là hàng xóm của ông D và chị N và là tổ trưởng tổ bảo vệ, là người đào mương thoát nước trong khu vực thôn. Trước đây mảnh đất của chị N đang ở không có ai sử dụng, người dân dùng để cấy rau muống, rau cần và có góc thì đổ gạch vỡ và rác thải. Năm 1994 do có chủ trương của thôn và UBND xã, nên đã làm mương thoát nước, đất của chị N hiện nay đang ở, khi làm mương là đang bỏ rặm, anh T6 trình bày khu đất của chị N có mương nước chảy qua là do ông D đào nhưng được UBND xã trả công Ý kiến ông Nguyễn Xuân X là hàng xóm của chị N và ông D: Khẳng định mảnh đất chị N đang ở trước đây là mảnh đất bỏ rặm, không ai sử dụng, người dân hay đổ rác trên bùng rặm này. Năm 1994 thực hiện chủ trương của UBND xã đào mương để thoát nước cho dân quanh thôn chứ không phải do cá nhân nào tự làm, mương chạy qua diện tích ao nhà ai thì người đó làm, HTX sẽ nghiệm thu và trả công bằng lúa. Khi chị N được nhận đất, chị N đã tiến hành xây dựng nhà và tường rào, móng tường của phần đất phía tây nam, nhưng nay đã bị ông D đổ đất đè lên móng tường. Khi gia đình chị N xây dựng tường rào, ông X và ông D còn đề nghị chị N xây tường lùi vào, để rộng phần ngõ đi cho các hộ dân. Ý kiến của ông Nguyễn Văn H2: Năm 2011 ông là người được chị N thuê để xây tường rào và xây dựng móng tường rào chạy từ hướng Đông bắc sang một phần hướng Tây nam. Phần móng tường nay đã bị ông D đổ đất chồng lấn lên.
3. Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2025/DS-ST ngày 15/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3- Thanh Hoá đã Quyết định:
Căn cứ: Khoản 9 Điều 26; Điều 35 (luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015), khoản 1 Điều 39; Điều 244; Điều 147; Điều 157; Khoản 1 Điều 158; Điều 165; Khoản 1 Điều 166; Điều 227; Điều 228; Điều 271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 166, Điều 169, Điều 179, Điều 189 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 11, Điều 26 và khoản 3 Điều 138, khoản 2 Điều 140 của Luật Đất đai năm 2024, Khoản 2 Điều 26, Điều a, Khoản 2 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu mà chị N đã rút.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Trọng D và Trịnh Thị N1 phải trả lại cho chị N diện tích đang lấn chiếm bằng 41,6 m² nằm trong thửa đất số 597, tờ bản đồ số 22 ( bản đồ địa chính xã D năm 2011) của chị N, được giới hạn bởi các điểm 8, 9, 15, 16 thể hiện trên sơ đồ đo vẽ của thửa đất kèm theo.
Đối với diện tích 35,9 m² mà hiện nay ông D đang sử dụng là mặt thoáng đường giao thông (là đất lưu không) thuộc quyền quản lý của UBND xã T theo quy định của pháp luật.
Về tiền chi phí thẩm định và định giá tài sản: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ số tiền chi phí cho việc xem xét, thẩm định, định giá tài sản và đo vẽ diện tích đất tại văn trên đất. Chị N đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tài sản. Vì vậy vợ chồng ông D, bà N1 phải thanh toán lại cho chị N số tiền 9.200.000đ mà chị N đã nộp.
Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí, nghĩa vụ chấm thi hành án, Luật Thi hành án dân sự, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
4. Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 24/9/2025, Tòa án sơ thẩm nhận được đơn kháng cáo của ông Nguyễn Trọng D và bà Trịnh Thị N1 với nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên theo hướng công nhận quyền sử dụng đất cho chúng tôi, buộc bà N trả lại cho chúng tôi toàn bộ diện tích 90,4 m² đất tại địa chỉ: thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
5. Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện.
Bị đơn là bà Trịnh Thị N1 vắng mặt, giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Trọng D thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị HĐXX huỷ toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm với lý do: Cấp sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng khi cho người khác nộp thay bà Nguyễn Thị N tiền định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ; Cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Trọng D và bà Trịnh Thị N1; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 08/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3- Thanh Hóa về lời tuyên trong Quyết định của bản án vì bản án đã tuyên vượt quá yêu cầu của các đương sự và không buộc bị đơn phải di dời 03 cây sấu trên đất để trả lại đất cho bà N.
Về án phí phúc thẩm: Các đương sự có đơn xin miễn án phí với lý do là người cao tuổi nên miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho ông D, bà N1.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà; nghe ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Trọng D và bà Trịnh Thị N1 nộp đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ông D, bà N1 đã được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét các nội dung kháng cáo:
[2.1] Về nguồn gốc thửa đất và tài sản xây dựng trên đất của chị Nguyễn Thị N thể hiện:
- Ngày 16/6/1998, UBND xã D (nay là UBND xã T) có biên bản giao đất ở cho chị Nguyễn Thị N với nội dung: “Diện tích kiểm tra là 168 m², nay giao cho bà Nguyễn Thị N 150 m², diện tích còn lại để mở rộng mặt thoáng đường giao thông. Giao cho gia đình khi làm nhà phải trừ hành lang giao thông. Nếu gây ách tắc gia đình phải tự tháo dỡ”.
- Biên bản giao đất có giáp ranh tứ cận 3 phía giáp đường thôn, 01 phía giáp ao, không phía nào giáp đất người dân hoặc hộ ông Nguyễn Trọng D.
- Theo Hồ sơ địa chính năm 2000 do UBND xã T, tỉnh Thanh Hoá cung cấp thể hiện: Thửa đất số 950, tờ bản đồ địa chính số 8, diện tích trên bản đồ là 250 m², loại đất T1 Chủ sử dụng đất là chị Nguyễn Thị N; Số mục kê tại trang số 195, thửa đất số 950 tờ bản đồ số 8, diện tích 150 m² lập năm 2000 thuộc loại đất T. Chủ sử dụng đất Nguyễn Thị N
- Hồ sơ địa chính năm 2011: Bản đồ địa chính xã D lập năm 2011 là thửa đất số 597, tờ bản đồ địa chính số 22, diện tích 186,1 m², loại đất ONT. Chủ sử dụng đất: Nguyễn Thị N và Nguyễn Văn S. Sổ mục kê lập năm 2011 tại trang số 79 tờ bản đồ số 22 thửa đất số 597 diện tích 186,1 m² thuộc loại đất ONT+CLN, Chủ sử dụng đất là: Nguyễn Văn S.
Tại văn bản số 2251 ngày 24/5/2024 của UBND huyện T (nay là UBND xã T) giải thích về lý do tăng diện tích giữa các lần đo đạc là do khi đo đạc thực tế đã đo theo bờ rào hiện trạng đất mà chị N đang sử dụng. UBND huyện khẳng định diện tích chị N được UBND xã D bàn giao đất ở ngày 16/6/1998 bằng 150 m².
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và Bản trích đo hiện trạng thực tế đo vẽ 02 hộ đang sử dụng, thể hiện: Diện tích thực tế của thửa đất bằng 185,9 m² có tứ cận: Phía Tây Bắc giáp đường giao thông; Phía Tây Nam giáp đường giao thông; Phía Đông Bắc giáp đường giao thông và phía Đông Nam giáp mương thoát nước ( kích thước các cạnh được thể hiện cụ thể trên sơ đồ đo vẽ). Trong đó:
- + Diện tích đất hiện nay chị N đang sử dụng bằng 108,4 m², trên đất có 01 nhà cấp 4 mái lợp fibro có diện tích 40,9 m² và công trình phụ mái lợp fibro, có diện tích 27 m², xung quanh phía Đông Bắc có xây dựng tường rào và cổng; một phần phía T là tường rào.
- + Phần đất ông D đang sử dụng: Diện tích 77,5 m². Tại thời điểm thẩm định, trên đất ông D đang sử dụng còn 3 cây sấu.
Qua xem xét các hồ sơ, tài liệu quản lý đất của UBND xã cung cấp thấy rằng kể từ thời điểm nhận đất, chị N đã sử dụng ổn định, liên tục trên đất, diện tích và thửa đất đã được thể hiện trên số mục kê và bản đồ địa chính của UBND xã qua các thời kỳ. Mặc dù tại hồ sơ địa chính và sổ mục kê năm 2011 của UBND xã, thửa đất có đứng tên ông S, nhưng ông S và chị N đều khẳng định không có việc chuyển nhượng, nên không phát sinh quyền của ông S ở thửa đất của chị N, mà do sai xót của UBND xã khi lập hồ sơ địa chính.
Tại báo cáo số 218/UBND-ĐC ngày 16/7/2024, UBND xã D báo cáo Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn với nội dung:
“Năm 1993 hộ ông Nguyễn Trọng D được giao đất Ao, thuộc đất khẩu của hộ gia đình theo Nghị định 64 của Chính phủ với diện tích ao là 680 m² tại một phần thửa đất số 412 tờ bản đồ số 8 diện tích 680 m² đã được UBND huyện T cấp ngày 28/6/1994, trong Giấy chứng nhận QSD đất đã cấp thửa đất số 411 tờ bản đồ số 8 (thửa đất số 411 tờ 8 đã ghi trong Giấy chứng nhận QSD đất của ông Nguyễn Trọng D năm 1994 là bị nhầm số thửa). Sau khi xã tổ chức làm mương tiêu chống ngập úng năm 1995, Đến năm 2011 đo đạc lại bản đồ địa chính, và đến năm 2019 ông Nguyễn Trọng D làm thủ tục chuyển nhượng QSD đất cho ông Tống Đình T và bà Luân Thị Thúy N3 với tích đo đạc lại là 627,3 m², được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T đo đạc hiện trạng sử dụng đất.
Hiện trạng thửa đất ông Nguyễn Trọng D đang sử dụng trong thửa đất số 597 tờ bản đồ số 22 diện tích 186,1 m² bản đồ địa chính xã D lập năm 2011 mang tên Nguyễn Thị N”.
Như vậy thửa đất hộ ông Nguyễn Trọng D đang sử dụng nằm trong diện tích đất chị Nguyễn Thị N được giao theo Biên bản giao đất ở ngày 16/6/1998.
[2.2]. Về diện tích đất của ông Nguyễn Trọng D:
Ông D hiện đang sử dụng diện tích 77,5 m² đất, ông D cho rằng đây là phần đất ao nhỏ của gia đình ông. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, năm 1994 gia đình ông D được cấp GCNQSDĐ đối với đất ao tại thửa đất số 412, tờ bản đồ số 8, tổng diện tích 680m². Tuy nhiên, ông D và UBND xã đã khẳng định trong Giấy chứng nhận QSD đất ghi nhầm số thửa (vì ông D sử dụng đất ao tại vị trí thửa số 411). Đến năm 2002 gia đình ông được dồn điền đổi thửa lần một (ngoài ra không được dồn điền, đổi thửa lần nào nữa), hộ ông D đã được giao vị trí tương ứng một phần thửa đất số 951, tờ bản đồ số 8, diện tích 599 m², mục đích sử dụng: đất ao, đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất năm 2004 mang tên Nguyễn Trọng D. Năm 2019 gia đình ông đã chuyển toàn bộ thửa đất nêu trên cho ông Tống Văn N4 và bà Luân Thị Thúy N3. Ông D cho rằng phần “ao nhỏ” 90m² còn lại là của mình và cho rằng chị N được UBND xã giao đất trên diện tích đất ao nhỏ của gia đình ông. Tuy nhiên, theo hồ sơ địa chính các năm 2000-2011, xác định phần đất ở của chị N đã được tách, lập thửa độc lập, nằm ngoài ranh giới GCN đất ao của ông D; Ông D, bà N1 không xuất trình được tài liệu chứng cứ gì về việc ông D, bà N1 được Cơ quan, tổ chức giao hoặc cá nhân chuyển nhượng phần diện tích đất mà ông đang sử dụng.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27/9/2024 cho thấy hiện nay vợ chồng ông D đang sử dụng diện tích 77,5m², trong đó ông D, bà N1 đang lấn chiếm của chị N bằng 41,6 m² đất nằm trong tổng diện tích 150 m² mà chị N được UBND xã D, huyện T bàn giao năm 1998. Diện tích đất còn lại bằng 35,9 m² hiện nay ông D đang sử dụng là mặt thoáng đường giao thông (là đất lưu không) hiện nay do UBND xã T, tỉnh Thanh Hóa quản lý. Việc gia đình ông D tự ý đổ đất để trồng cây trên đất là lấn chiếm đất trái quy định của pháp luật, vì vậy không có căn cứ để buộc chị N phải trả tiền đổ đất và trả tiền cây trồng trên đất cho ông D.
Từ những căn cứ trên, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N. Buộc ông D phải di dời 03 cây sấu trên đất lấn chiếm để trả lại cho chị N diện tích đất 41,6 m² là có căn cứ.
[2.3] Ông Nguyễn Trọng D và bà Trịnh Thị N1 kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa công nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông, buộc bà N trả lại cho vợ chồng ông toàn bộ diện tích 90,4 m² đất tại địa chỉ: thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
Nhận thấy: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông D, bà N1 không có yêu cầu phản tố, không có yêu cầu độc lập. Ý kiến trình bày của ông D là đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do cấp sơ thẩm không thụ lý và xem xét yêu cầu như trong đơn kháng cáo của bị đơn, do đó HĐXX phúc thẩm không có cơ sở để xem xét phần kháng cáo này của ông D, bà N1.
Tại phiên toà phúc thẩm: Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Trọng D thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị HĐXX huỷ toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm với lý do: Cấp sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng khi cho người khác nộp thay bà Nguyễn Thị N tiền định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ; Cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ.
Xét thấy: Theo thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ của Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá, chị N đã nhờ mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị S1 và chú ruột là ông Nguyễn Văn S nộp thay hai khoản tiền này và được ghi rõ trong giấy nhận tiền là nộp thay cho chị Nguyễn Thị N. Tại Điều 26 Pháp lệnh Chi phí tố tụng năm 2024 quy định về thủ tục nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản không có quy định về việc không được nộp tiền thay, vì vậy không vi phạm thủ tục tố tụng. Do đó nội dung kháng cáo này của bị dơn là không có căn cứ.
Về thu thập tài liệu chứng cứ: Quá trình giải quyết vụ án, các bên đã giao nộp cho Toà án các tài liệu liên quan đến yêu cầu, đề nghị của mình. UBND huyện T, tỉnh Thanh Hoá cũng đã cung cấp hồ sơ địa chính và có ý kiến trình bày bằng văn bản các thông tin địa chính liên quan đến thửa đất tranh chấp theo yêu cầu của Toà án.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông D, bà N1.
QUYẾT ĐỊNH
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Trọng D và bà Trịnh Thị N1.
- Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 08/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3- Thanh Hoá về lời tuyên trong phần Quyết định như sau:
Căn cứ: Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Luật Đất đai năm 2024; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc hội.
Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N về việc buộc ông D, bà N1 phải trả cho chị diện tích 35,9 m² mà hiện nay ông D đang sử dụng là mặt thoáng đường giao thông (là đất lưu không) thuộc quyền quản lý của UBND xã T.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N. Buộc ông Nguyễn Trọng D và bà Trịnh Thị N1 phải trả lại cho chị Nguyễn Thị N diện tích đất 41,6 m² nằm trong thửa đất số 597, tờ bản đồ số 22 bản đồ địa chính xã D năm 2011 mang tên Nguyễn Thị N, được giới hạn bởi các điểm 8, 9, 15, 16 thể hiện trên sơ đồ đo vẽ của thửa đất kèm theo.
Ông D, bà N1 có trách nhiệm phải di dời hoặc thu hoạch 03 cây sấu trên đất lấn chiếm để trả lại mặt bằng cho chị N.
- Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Trọng D và bà Trịnh Thị N1 được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xét.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Anh |
Bản án số 138/2025/DSPT ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 138/2025/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, sửa bản án dân sự sơ thẩm của TAND khu vực 3-Thanh Hoá về lời tuyên trong quyết định
