Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 138/2025/DS-ST

Ngày: 16/4/2025

V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Duy Minh Chính

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Thái Thục Hiền
  2. Ông Đoàn Văn Rỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Trinh – Thư ký của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Nhàn – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 734/2024/TLST-DS, ngày 17 tháng 12 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-DS ngày 05/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QĐST-DS ngày 31/3/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam)

Trụ sở: Số X đường E, phường B, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp: Bà Lâm Thị Thùy D; Sinh năm 2000;

Địa chỉ: P, Tầng D, Tòa nhà G đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Theo Văn bản ủy quyền ngày 20/6/2024);

2. Bị đơn: Ông Tăng Phong B; Sinh năm 1966;

Nơi cư trú: Số B đường N, Phường A (nay là phường H), Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/4/2024 cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, nguyên đơn Công ty T (Việt Nam) thông qua người đại diện hợp pháp trình bày:

Ngày 08/10/2022, Công ty T (Việt Nam) (Sau đây gọi tắt là Công ty) có ký hợp đồng tín dụng số: 3853006 về việc cấp tín dụng cho ông Tăng Phong B với khoản vay trị giá 37.310.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân cho ông B.

Sau khi kí kết Công ty đã giải ngân theo đúng quy định của hợp đồng cho ông B theo hợp đồng tín dụng. Theo hợp đồng tín dụng, ông B có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 1.882.671 đồng trong kỳ hạn 36 tháng kể từ ngày 01/12/2022 đến ngày 01/11/2025. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Tăng Phong B vẫn không có thiện chí trả nợ, vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Tính đến ngày 16/04/2025 tổng số tiền gốc và lãi của Bị đơn cần phải thanh toán là: 58.186.550 đồng.

Nhận thấy quyền và lợi ích bị xâm phạm, Công ty khởi kiện ông Tăng Phong B để yêu cầu:

- Buộc ông Tăng Phong B phải trả ngay một lần cho Công ty T (Việt Nam) số tiền tạm tính đến ngày 16/04/2025 với tổng số tiền gốc và lãi của Bị đơn cần phải thanh toán là: 58.186.550 đồng. Trong đó:

  • - Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 31.451.132 đồng.
  • - Số tiền lãi trong hạn: 16.249.327 đồng.
  • - Số tiền lãi quá hạn: 9.026.667 đồng.
  • - Số tiền lãi chậm trả: 1.459.424 đồng.

- Ông Tăng Phong B còn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ sau ngày 16/4/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã được xác lập giữa Công ty và ông Tăng Phong B .

Công ty xác định chỉ cho cá nhân ông Tăng Phong B vay vốn, không liên quan đến người khác nên Công ty chỉ yêu cầu cá nhân ông Tăng Phong B có nghĩa vụ thanh toán nợ, không yêu cầu người khác liên đới chịu trách nhiệm và cũng không yêu cầu đưa thêm người tham gia tố tụng trong vụ án này.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn – ông Tăng Phong B đến Tòa án để tự khai, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông B không đến Tòa án theo giấy triệu tập mà không có lý do chính đáng, ông B cũng không có bất kỳ văn bản nào phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty. Do đó, Tòa án không thể thu thập được lời khai của ông B.

Tại phiên tòa,

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt nhưng trong đơn đề nghị giải quyết vắng mặt thể hiện nội dung vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Toà án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Tăng Phong B thanh toán ngay một lần cho Công ty số tiền tạm tính đến ngày 16/04/2025 với tổng số tiền gốc và lãi của Bị đơn cần phải thanh toán là: 58.186.550 đồng. Trong đó:

  • - Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 31.451.132 đồng.
  • - Số tiền lãi trong hạn: 16.249.327 đồng.
  • - Số tiền lãi quá hạn: 9.026.667 đồng.
  • - Số tiền lãi chậm trả: 1.459.424 đồng.

Buộc Tăng Phong B thanh toán phần nợ lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ sau ngày 16/4/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ;

Bị đơn – ông Tăng Phong B vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi xét xử thấy rằng:

- Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Về thời hạn giải quyết vụ án đảm bảo theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 280, 466, 468 và 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Công ty T (Việt Nam).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đại diện nguyên đơn, lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Công ty khởi kiện ông Tăng Phong B yêu cầu trả nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do bị đơn – ông Tăng Phong B có đăng ký hộ khẩu tại Quận H và trong hồ sơ tín dụng ông B cũng ký xác nhận cư trú tại địa chỉ số B N, Phường A (nay là phường X), Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả xác minh của Công an phường H, Quận H, ông B hiện có đăng kí thường trú và thực tế cư trú tại địa chỉ số B N, phường H, Quận H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn – ông Tăng Phong B, Tòa án đã triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng ông B vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt ông B.

Nguyên đơn có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

Xét, Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Công ty với ông Tăng Phong B là hoàn toàn tự nguyện, nội dung hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên hợp đồng có hiệu lực pháp luật.

Ngày 08/10/2022, Công ty T (Việt Nam) (Sau đây gọi tắt là Công ty) có ký hợp đồng tín dụng số: 3853006 về việc cấp tín dụng cho ông Tăng Phong B với khoản vay trị giá 37.310.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân cho ông B. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn không thực hiện đúng thỏa thuận về việc trả nợ gốc, nợ lãi cho Công ty là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định pháp luật và thỏa thuận đã ký tại Hợp đồng tín dụng. Tính đến ngày 16/04/2025 tổng số tiền gốc và lãi của Bị đơn cần phải thanh toán là: 58.186.550 đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 31.451.132 đồng. Số tiền lãi trong hạn: 16.249.327 đồng. Số tiền lãi quá hạn: 9.026.667 đồng. Số tiền lãi chậm trả: 1.459.424 đồng.

Là có căn cứ nên được chấp nhận.

Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên là phù hợp với Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.

Đối với bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập đến Tòa án để tự khai, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng bị đơn không đến Tòa án theo giấy triệu tập mà không có lý do chính đáng và cũng không có bất kỳ văn bản nào phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty. Điều này xem như bị đơn đã từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ tham gia tố tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình.

[4] Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn – ông Tăng Phong B phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án. Cụ thể số tiền án phí dân sự sơ thẩm ông Tăng Phong B phải chịu là: 2.909.327 đồng.

- Công ty không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a Khoản 1 Điều 39, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13;

Áp dụng:

  • - Các Điều 280, 351, 357, Khoản 2 Điều 468 và Điều 688 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13;
  • - Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12;
  • - Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Tăng Phong B phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T (Việt Nam) số tiền vay nợ gốc và tiền lãi tính đến ngày 16/04/2025 với tổng số tiền gốc và lãi của Bị đơn cần phải thanh toán là: 58.186.550 đồng. Trong đó:

  • - Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 31.451.132 đồng.
  • - Số tiền lãi trong hạn: 16.249.327 đồng.
  • - Số tiền lãi quá hạn: 9.026.667 đồng.
  • - Số tiền lãi chậm trả: 1.459.424 đồng.

Ông Tăng Phong B còn phải tiếp tục chịu trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ sau ngày 16/4/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã được xác lập giữa Công ty T (Việt Nam) và ông Tăng Phong B .

Việc thanh toán tiền được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Ông Tăng Phong B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.909.327 đồng (Hai triệu chín trăm linh chín nghìn ba trăm hai mươi bảy đồng). Nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2.2. Hoàn trả lại cho Công ty T (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 942.962 đồng (Chín trăm bốn mươi hai và chín trăm sáu mươi hai đồng) theo biên lai thu tiền số 0030938 ngày 09/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền kháng cáo: Công ty T (Việt Nam), ông Tăng Phong B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự; Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS Q.8;
  • - VKSND Q.8;
  • - TAND TP.HCM;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Duy Minh Chính

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2025/DS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 138/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do vi phạm nghĩa thanh toán Công ty tài chính TNHH MTV M khởi kiện ông Tăng Phong B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger