Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2025/DS-PT

Ngày: 06/3/2025

V/V: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất, đòi tài sản là quyền sử

dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng

Các Thẩm phán: Bà Đặng Mai Hoa

Bà Trần Thị Liên Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:

Bà Đặng Thị Sơn Cầm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 274/2024/TLPT-DS ngày 10/10/2024, về việc “ Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đòi quyền sử dụng đất”.

Do bản án số 03/2024/DS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐ-PT ngày 06/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2025/QĐPT-HPT ngày 20/02/2025 giữa:

*Nguyên đơn: Ông Đặng Văn V, sinh năm 1961;

Địa chỉ: 2 Chùa T, phường S, thị xã S, thành phố Hà Nội.

Có mặt.

Đại diện theo ủy quyền của ông V: Công ty L3

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoài S – Giám đốc Công ty

(Có mặt).

*Bị đơn: Ông Đặng Quang H, sinh năm 1953;

Địa chỉ: Thôn C xã V, huyện P, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Bùi Mạnh L, ông Nguyễn Trọng T

Địa chỉ liên hệ: Số C phố Đ, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.( có mặt).

*Người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

  • + Bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1958
  • Địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội. Có mặt.
  • + Anh Đặng Anh T2, sinh năm 1983, có mặt.
  • + Chị Đặng Thị N, sinh năm 1989, vắng mặt.
  • Cùng địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội.
  • + Anh Đặng Mạnh T3, sinh năm 1984, có mặt.
  • Địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội.
  • + Chị Đặng Thị C, sinh năm 1988, có mặt.
  • Địa chỉ: Thôn E, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại Đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Bố mẹ ông V là ông Đặng Văn X, bà Doãn Thị T4 có 5 người con (3 trai, 2 gái). Khi bố mẹ ông V còn sống, đã thống nhất tặng cho mỗi con trai phần đất riêng biệt, các thành viên trong gia đình đều đồng tình, không có ý kiến phản đối gì. Theo đó, anh trai cả là ông Đặng Quang H được chia diện tích là 550m² (đã làm thủ tục và giấy tờ đầy đủ); anh thứ là ông Đặng Văn H1 được chia diện tích là 659m² (đã làm thủ tục, giấy tờ đầy đủ và xây dựng nhà ở trên đất này) và Ông Đặng Văn V được chia diện tích là 422m² (hiện trạng tại địa phương có lưu trữ hồ sơ địa chính của UBND xã V năm 1991, người sử dụng là Đặng Văn V, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ông V khẳng định ông là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất số 20, tờ bản đồ số 3C, diện tích 422m² địa chỉ tại thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội, mục đích sử dụng là vườn ở, sử dụng trước ngày 15/10/1993 theo Phiếu cung cấp thông tin địa chính số 03/PCC-UBND ngày 18 tháng 11 năm 2022 của UBND xã V.

Bản thân là bộ đội, công tác xa nhà nên từ trước năm 1989, diện tích đất trên, ông V đã để cho mẹ Ông V là bà T4 và anh trai cả là ông Đặng Quang H quản lý, trông nom giúp.

Năm 1989, ông V lấy vợ, vì cần có chỗ ở ổn định, gần đơn vị công tác nên ông V có thỏa thuận và nhận chuyển nhượng một diện tích đất khoảng 60m² tại S, chủ sử dụng của thửa đất yêu cầu ông V thanh toán 12 chỉ vàng. Do hoàn cảnh lúc bấy giờ khó khăn, không đủ tiền để thanh toán tiền mua đất. Tại thời điểm này vợ chồng ông V được bố mẹ vợ cho vay 06 chỉ vàng để trả trước cho chủ đất, còn 06 chỉ vàng vợ chồng ông V đã thỏa thuận với nhau sẽ về quê, chuyển nhượng một phần diện tích đất bố mẹ đã cho ông V ở trên để lấy tiền. Sau đó, Ông V về quê và trình bày với mẹ và ông H (là người đang trực tiếp quản lý, trông nom diện tích 422m² thuộc quyền sử dụng của ông V tại thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội nêu trên) về việc ông V sẽ chuyển nhượng một nửa diện tích đất (1/2 của 422m² là 211m²) cho ai có nhu cầu mua để lấy 06 chỉ vàng thanh toán cho chủ sử dụng đất ở S. Mẹ ông và ông H đều đồng ý. Ông Hòa đồng Ý mua ½ diện tích đất này là 211m2 với giá 06 chỉ vàng của ông V. Do là anh em trong một nhà nên tin tưởng nhau do vậy hai bên không lập hợp đồng mua bán. Ông H đã thanh toán 06 chỉ vàng cho ông V, có giấy biên nhận ông V nhận 06 chỉ vàng. Sau khi ông V chuyển nhượng cho ông H một nửa diện tích đất nêu trên, còn một nửa diện tích thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông V là 211m², vì công tác xa nhà nên ông V vẫn để cho mẹ ông và ông H trồng rau màu trên phần diện tích đất này.

Năm 2021, ông Vĩnh N1 hưu và muốn về quê để xây dựng nhà cửa, làm nơi đi về lúc tuổi già. Ông V có ra UBND xã để làm làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ở đối với phần diện tích còn lại thì được cán bộ địa chính xã có ý kiến là dù ông V và ông Đặng Quang H đã có thỏa thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất như trên vào những năm 1989 - 1990 nhưng theo hồ sơ lưu trữ tại địa phương, ông V vẫn là chủ sử dụng đối với toàn bộ diện tích đất 422m² tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 3C. Do đó, ông Vĩnh cần hoàn tất thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với tổng diện 422m² đất nêu trên rồi anh em ông Vĩnh tự thỏa thuận chuyển nhượng, làm giấy tờ cho nhau sau.

Ông V đã trao đổi lại vấn đề này cho ông H và mời cán bộ địa chính về đo đạc, xin chữ ký của các hộ gia đình liền kề. Tuy nhiên giữa ông V và ông H không đạt được sự thống nhất. Ông H cho rằng, ông đã mua toàn bộ diện tích đất của ông V, nên không đồng ý chia tách gì cả mà muốn chiếm hữu sử dụng toàn bộ.

Ông V đã nhiều lần đề nghị cùng ông H thỏa thuận về quyền sử dụng đất nêu trên, để quyền sử dụng đất của ông V, phần ông V bán cho ông H đều có bìa đỏ nhưng đều bị ông H từ chối và có thái độ tiêu cực.

Ông V xác nhận giữa ông và ông H thực chất có giao dịch chuyển nhượng ½ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 20, tờ bản đồ 3C, địa chỉ tại thôn C, xã V, huyện

P, thành phố Hà Nội là 211m², còn ông V đã nhận đủ 06 chỉ vàng từ những năm 1989 - 1990. Tuy nhiên, việc mua bán hai bên không lập hợp đồng theo quy định của pháp luật, đối chiếu với quy định trên thì hợp đồng giữa ông V và ông H là hợp đồng trái pháp luật.

Căn cứ khoản 10 Điều 12 Luật đất đai năm 2013 về hành vi bị nghiêm cấm là: “cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật”. Theo đó, ông H đang có hành vi gây cản trở ông V thực hiện các quyền của chủ sử dụng đất hợp pháp, trong đó, phải kể đến là làm ảnh hưởng trực tiếp đến ông Vĩnh K thực hiện xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ khoản 1 Điều 100 Luật đất đai năm 2013 quy định: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất: “...b)...Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993...”. Theo đó, tại hồ sơ địa chính lưu trữ tại xã V năm 1991 thì ông V – Đặng Văn V là người sử dụng đất đối với diện tích 422m² nêu trên.

Nay ông V yêu cầu Tòa án hủy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại một phần Thửa đất số 20, tờ bản đồ 3C, diện tích 211m² địa chỉ tại thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội giữa ông V và ông Đặng Quang H. Trường hợp nếu Tòa án công nhận giao dịch nêu trên thì buộc ông Đặng Quang H thực hiện các quyền và nghĩa vụ của giao dịch chuyển nhượng này.

Về phần đất còn lại, ông V không đóng thuế nông nghiệp và cũng không nhận được thông báo của cơ quan nhà nước nên không biết để thực hiện.

Ông V đồng ý thanh toán công sức tôn tạo cho gia đình ông H bằng 11m2 đất, chỉ yêu cầu trả lại diện tích đất 200m2 và nhất trí công nhận phần diện tích đất đã bán cho ông H.

Ngoài ra ông V không có yêu cầu hoặc đề nghị gì khác.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị công nhận việc nguyên đơn đã bán cho bị đơn 211 m2 đất (phần diện tích đã xây nhà) tại thửa đất số 20, tờ bản đồ 3C, diện tích 211m² địa chỉ tại thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội; Chấp nhận việc nguyên đơn đồng ý thanh toán phần công sức gia đình ông H và phần tài sản trên đất bằng 11m2 đất theo như đề xuất tại phiên toà; Buộc bị đơn hoàn trả nguyên đơn đơn 200 m2 đất (phần diện tích chưa xây dựng nhà, đã trừ phần công sức cho bị đơn là 11m2) tại thửa đất số 20, tờ bản đồ 3C, diện tích 211m² địa chỉ tại thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội và chấm dứt các hành vi cản trở quyền sử dụng của nguyên đơn. Phần diện tích

thực tế dôi dư so với trong giấy tờ đề nghị chia đôi cho mỗi bên tạm sử dụng cho đến khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

*Bị đơn ông Đặng Quang H trình bày: Năm 1989, ông H có nhận chuyển nhượng toàn bộ Thửa đất số 20, tờ bản đồ 3C, diện tích là 422m2, địa chỉ tại thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội của ông V. Nguồn gốc Thửa đất là của ông V được bố mẹ hai ông tặng cho. Giá mua bán là 06 chỉ vàng, lý do lúc đó ông V có mua đất của chị S1 ở S nên cần tiền. Sau khi mua ông H đã sử dụng đất ổn định cho đến nay. Quá trình sử dụng không có tranh chấp với ai kể cả ông V.

Về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất mau của ông V, ông H chưa thực hiện.

Việc các bên khi mua bán không lập giấy tờ là do mẹ các ông lúc đó còn sống có nói rằng không cần thiết.

Nay ông V khởi kiện đòi lại ½ đất, ông không nhất trí vì việc mua bán là mua bán toàn bộ thửa đất chứ không phải ½ như ông V trình bày.

Về công sức của gia đình ông H tôn tạo thửa đất, nếu Tòa án tuyên đất của ông Vĩnh ½ thì ông H xác định, gia đình ông có công sức rất lớn, vì trước đây thửa đất này là cái ao mà hiện nay đã tôn thành diện tích đất cao ráo, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật đảm bảo quyền lợi cho gia đình ông H.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Đỗ Thị T1 trình bày: Bà là vợ ông Đặng Quang H. Năm 1982, bà và ông Đặng Quang Hòa kết H2 và chung sống cùng bố mẹ chồng là cụ Đặng Văn X (mất năm 1987) và cụ Doãn Thị T4 (mất năm 1998) và các em của ông H tại ngôi nhà cũ của bố mẹ thuộc Thôn C, xã V, huyện P. Thửa đất này đã được UBND huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà.

Đối với thửa đất đang tranh chấp trong vụ án: Bà T1 được biết nguồn gốc thửa đất là của bố mẹ chồng đã chia phần cho ông V, chỉ nói miệng chứ không làm thủ tục tặng cho đất. Vị trí thửa đất là phía ngoài cổng, giáp với lối đi vào nhà của bố mẹ chồng.

Năm 1989, ông V lấy vợ và có nhu cầu mua đất ở thị xã S cho gần nơi công tác nên đã về nói với mẹ đẻ là muốn bán đất ở quê (V) để lấy tiền mua đất S. Mẹ chồng bà đồng ý nhưng không muốn bán đất cho người ngoài nên sau khi ông Đặng Văn H1 (em ruột ông H) không mua thửa đất của ông V thì mẹ chồng bà đã động viên vợ chồng bà mua lại thửa đất này. Vợ chồng bà đã vay mượn của em gái bà là Đặng Thị L1 02 chỉ vàng và mẹ đẻ bà 02 chỉ vàng, cộng với 02 chỉ vàng

là đối khuyên tai – của hồi môn thì mới có đủ 06 chỉ vàng để mua lại toàn bộ thửa đất của ông V. Khi đó, ông V cần 12 chỉ vàng để mua thửa đất của bà Nguyễn Thị Ánh S1 (Giáo viên trường P), cụ thể là: bề mặt đường 8m3, dày là 6m6, chiều sâu 33m (diện tích 247m²) chứ không phải 60m² như ông V trình bày trong Đơn khởi kiện và B tự khai. Trên diện tích đất ông V đã mua còn có nhà ở và các công trình khác. Vợ chồng bà là người trực tiếp mang vàng đến trả cho bà S1 nên biết rõ về việc mua đất này của ông V và khẳng định việc này là có thật. Sau đó nhiều lần, vợ chồng bà phải mang gạo, rau và mua sắm vật dụng gia đình để mang cho gia đình ông V cũng bởi tình nghĩa anh em trên dưới trong nhà cưu mang, đùm bọc nhau cả khi khó khăn, thiếu thốn.

Việc vợ chồng bà mua đất của ông V thì những người trong gia đình, trong họ và hàng xóm đều biết. Khi đó, mẹ chồng còn sống và vì tin tưởng việc mua bán đất giữa anh em trong nhà và cũng là đất của bố mẹ nên ông bà đã không làm giấy tờ mua bán đất. Tuy nhiên, việc mua bán đã hoàn tất vì toàn bộ số vàng vợ chồng bà mua đất thì ông V đã nhận đủ, toàn bộ thửa đất thì ông bà sử dụng.

Sau khi mua đất, vợ chồng bà là người trực tiếp sử dụng toàn bộ thửa đất, đổ đất lấp ao, cải tạo thửa đất từ ao trũng, ruộng muống để có hiện trạng như ngày nay. Trong suốt quá trình sử dụng đất hơn 34 năm qua, ông V thường xuyên chứng kiến vợ chồng bà xây tường bao, cải tạo đất, xây dựng nhà cửa trên đất ... nhưng không hề có bất kỳ ý kiến gì. Ông bà cũng dành tất cả tâm huyết của mình vào việc cải tạo thửa đất vì xác định toàn bộ thửa đất đó là của mình.

Năm 2020, gia đình ông bà cũng đã họp và thống nhất về việc ông Vĩnh L2 lại, hoàn tất thủ tục để chuyển nhượng, sang tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà theo quy định của pháp luật. Các bên cũng đã mời cán bộ địa chính xã và đơn vị đo đạc đến để làm hồ sơ thửa đất. Nếu không có việc xô xát xảy ra giữa anh em ông H và ông H1 thì mọi thủ tục cũng đã hoàn tất và không có vụ án tranh chấp như hiện nay.

Vì vậy, bà T1 đề nghị TAND huyện P công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 20, tờ bản đồ số 3C, diện tích 422m² tại thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội giữa vợ chồng ông bà (Đặng Quang H và Đỗ Thị T1) và ông Đặng Văn V để ông bà hoàn thiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất nếu trên.

Ngoài ra không có yêu cầu hoặc đề nghị gì khác.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Đặng Mạnh T3 trình bày: Anh là con trai ông Đặng Quang H và bà Đỗ Thị T1, trước đây anh chung

sống cùng bố mẹ tại Thửa đất các bên đang có tranh chấp là Thửa số 20 tờ bản đồ số 3C, diện tích theo sổ là 422m2. Đến năm 2013 thì đã chuyển ra ở riêng.

Hiện tại thửa đất có anh của anh là Đặng Anh T2, sinh năm 1983 (ở từ trước cho đến nay) và vợ là Đặng Thị N, sinh năm 1989, kết hôn năm 2008). Về nội dung vụ việc bố mẹ anh đã thể hiện tại các bản trình bày đã nộp cho Tòa án anh đồng ý và không có ý kiến gì khác. Việc ông V cho rằng chỉ bán ½ thửa đất là không đúng mà là bán tất cả thửa đất với số tiền là 6 chỉ vàng. Về công sức của anh và bố mẹ, anh xác định, gia đình có công sức rất lớn, vì trước đây thửa đất này là cái ao mà hiện nay đã tôn thành diện tích đất cao ráo. Về yêu cầu công sức đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật đảm bảo quyền lợi cho gia đình anh.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Đặng Anh T2 trình bày tại phiên tòa: Anh là con trai ông Đặng Quang H và bà Đỗ Thị T1, hiện anh đang ở cùng bố mẹ tại thửa đất đang có tranh chấp, anh nhất trí với ý kiến của bố, mẹ, anh T3 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H, không có quan điểm gì khác.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Đặng Thị C và chị Đặng Thị N đã được triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt nên không có quan điểm về việc giải quyết vụ án.

*Những người được ông Đặng Quang H đề nghị Tòa án triệu tập đều có ý kiến chung là: Không chứng kiến sự việc mua bán đất giữa ông V và ông H, xác nhận có việc ông H đã sử dụng diện tích đất có tranh chấp đã rất lâu, có nghe nói việc ông V bán đất cho ông H, còn cụ thể chi tiết thì không được chứng kiến.

Tại bản án số 03/2024/DS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Hà Nội đã xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn V về buộc ông Đặng Quang H phải trả lại diện tích đất 211m2 tại Thửa đất số 20, tờ bản đồ số 3C, diện tích 422m² địa chỉ tại thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội.
  2. Buộc ông Đặng Văn V phải thanh toán công sức, giá trị các tài sản trên phần đất được trả lại tổng 1 khoản là 63m2 đất. Sau khi trừ đi phần công sức, giá trị các tài sản có trên đất, ông H phải trả cho ông V diện tích đất là 148m2 thuộc Thửa đất số 20, tờ bản đồ số 3C, diện tích 422m² địa chỉ tại thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội.
  3. Ông Đặng Văn V được quyền sở hữu, sử dụng 148m2 đất cùng các tài sản có trên đất bao gồm hàng rào gạch, các loại cây cối, hoa màu thuộc Thửa đất

số 20, tờ bản đồ số 3C, diện tích 422m² địa chỉ tại thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Đỗ Thị T1, công nhận Hợp đồng chuyển nhượng một phần diện tích đất giữa ông Đặng Văn V và ông Đặng Quang H về việc chuyển nhượng ½ diện tích đất tương đương 211m2 tại Thửa đất số 20, tờ bản đồ số 3C, địa chỉ tại thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội.
  2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Đặng Văn V về chia đôi diện tích 50,2m2 tăng thêm tại Thửa đất số 20, tờ bản đồ số 3C, diện tích 422m² địa chỉ tại thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội.
  3. Ông Đặng Quang H được tiếp tục sử dụng diện tích đất tăng thêm 50,2m2 nêu trên. Tổng cộng cùng giá trị công sức đóng góp và phần diện tích đất tăng thêm, ông Đặng Quang H được quyền sở hữu, sử dụng tổng số 324,2m2 đất cùng các tài sản có trên đất tại Thửa đất số 20, tờ bản đồ số 3C, địa chỉ tại thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội.
  4. Giao cho ông Đặng Quang H đại diện các con là anh Đặng Anh T2, anh Đặng Mạnh T3, chị Đặng Thị C và bà Đỗ Thị T1 nhận giá trị công sức tại Thửa đất số 20, tờ bản đồ số 3C, địa chỉ tại thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội là 63m2 đất.
  5. Buộc gia đình ông Đặng Quang H, bà Đỗ Thị T1 cùng các con không được cản trở việc ông Đặng Quang V1 sử dụng diện tích đất đã được phân định.

Việc phân định các diện tích đất có sơ đồ chi tiết kèm theo.

Các bên có nghĩa vụ kê khai và đăng ký với cơ quan có thẩm quyền về về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải chịu các nghĩa vụ tài chính (Nếu có).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm ngày 14/5/2024 Nguyên đơn là ông Đặng Văn V có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Hà Nội không đồng ý trích công sức cho ông Đặng Quang H.

Ngày 13/5/2024, Bị đơn là ông Đặng Quang H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị T1 đều có đơn kháng cáo toàn bộ bản án số 03/2024/DS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Hà Nội, đề nghị hủy hoặc sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của Bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Tại phiên tòa Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và rút toàn bộ

yêu cầu kháng cáo; Bị đơn ông Đặng Quang H; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Các đương sự xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác xuất trình cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay ông Đặng Văn V đã rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, do đó đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu kháng cáo của ông V.

Về nội dung: căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ xét thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đặng Quang H, bà Đỗ Thị T1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm; Về án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Nguyên đơn là ông Đặng Văn V và Bị đơn là ông Đặng Quang H; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị T1 làm trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.

Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay ông Đặng Văn V đã rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, xét thấy việc rút yêu cầu kháng cáo của ông V là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận. Do vậy đình chỉ giải quyết yêu cầu kháng cáo của ông Đặng Văn V.

Về người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, nhưng tại phiên tòa hôm nay những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Đặng Thị N vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị N.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn đề nghị xác định ông Doãn Văn H3, ông Doãn Văn H4, ông Đặng Văn H5, bà Đặng Thị L1, bà Đặng Thị M... là người làm chứng, xét thấy tại phiên tòa cũng như quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận, việc các bên mua bán chuyển nhượng đất cho nhau không có văn bản ghi nhận, không có ai làm chứng ngoài vợ chồng ông H, ông V tham gia giao dịch, do đó lời khai của những người này là không khách quan và không có giá trị chứng minh trong vụ án, nên Hội đồng xét xử không xác định họ là người

làm chứng. Đối với ông Đặng Văn H1, ông H1 thừa nhận không có yêu cầu gì trong vụ án, đồng thời do ông H1 là bị cáo trong vụ án mà ông H là người bị hại nên lời khai của ông H1 là không khách quan, do đó Tòa án cấp sơ thẩm không xác định họ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng như là người làm chứng là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2].Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của Bị đơn là ông Đặng Quang H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị T1, Hội đồng xét xử xét thấy quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay các đương sự đều xác nhận nguồn gốc thửa đất số 20, tờ bản đồ 3C, diện tích 422 m² (theo ghi nhận tại sổ lưu trữ), tại thôn C, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội là của cụ X và cụ T4 ( là bố mẹ ông V, ông H) cho ông V.

Các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện ngày 11/11/1984 ông Đặng Văn V đã đứng tên đăng ký quyền sử dụng ruộng đất đối với thửa đất số 20, tờ bản đồ số 3C, diện tích 422m2 tại xóm E, V, P (BL 86); Sổ mục kê năm 1991 dòng số 20 thể hiện chủ sử dụng là ông Đặng Văn V, diện tích 422m2, loại ruộng đất “x x” tương ứng với vườn ở; Tờ khai năm 1991 thể hiện tên chủ sử dụng đất là Đặng Văn V, địa chỉ xóm E, V, P, Hà Nội; tờ bản đồ số 3C, thửa đất số 20, diện tích 422m2, loại ruộng đất: đất ở. Do vậy có cơ sở xác định ông Đặng Văn V là chủ sở hữu hợp pháp quyền sử dụng 422m2 đất tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 3C tại xóm E, xã V, huyện P, Hà Nội.

Năm 1989 các bên có thỏa thuận miệng với nhau về việc chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất tại thửa số 20, tờ bản đồ só 3C tại xóm E, xã V Huyện P, Hà Nội.

Theo ông V trình bày thì ông chỉ chuyển nhượng ½ diện tích đất trên cho ông H với diện tích là 211m² trong tổng số 422m² đất trên cho ông H, với giá 06 chỉ vàng chứ không chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trên.

Theo ông H trình bày ông V đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 20 tờ bản đồ số 3C, diện tích là 422m² cho ông, với giá 06 chỉ vàng chứ không phải chuyển nhượng ½ thửa đất như ông V trình bày.

Xét thấy, quá trình giải quyết và tại phiên tòa các bên đương sự đều thừa nhận việc chuyển nhượng hai bên chỉ thỏa thuận miệng với nhau, không lập hợp đồng chuyển nhượng và chỉ có hai bên biết với nhau. Sau khi mua gia đình ông H đã sử dụng diện tích đất mua của ông V. Mặc dù ông V không ngăn cản nhưng gia đình ông H cũng chỉ xây dựng các công trình nhà ở trên phần đất tương đương ½ thửa đất số 20, phần diện tích đất còn lại gia đình ông H chỉ trồng rau, quá trình sử dụng từ đó cho đến nay gia đình ông H cũng không thực hiện việc kê khai nhà

đất theo quy định và cũng chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong khi đó tháng 12/1992, ông H đã làm thủ tục kê khai đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H đối với diện tích đất 530m2 (Nguồn gốc do bố mẹ tặng cho) ở ngay bên cạnh thửa đất đang tranh chấp và 01 thửa đất chuyên màu có diện tích 308m2 nhưng lại không tiến hành thủ tục xin cấp giấy đối với diện tích đất đã mua của ông V.

Hơn nữa, tại thời điểm các bên thực hiện việc chuyển nhượng đất năm 1989 thời điểm này Luật đất đai năm 1987 đã có hiệu lực, theo quy định tại Điều 1, Điều 5 Luật đất đai năm 1987 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thồng nhất quản lý và nghiêm cấm việc mua bán dười mọi hình thức. Theo tiểu mục 2.2 mục II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán ngày 10/8/2004 quy định:

“2.2 Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ ngày 01/7/1980 ( Ngày chính phủ ban hành Quyết định số 201/CP) đến trước ngày 15/10/1993 ( Ngày Luật đất đai năm 1993 có hiệu lực).

Pháp luật thời kỳ nay nghiêm cấm việc mua bán, phát canh thu tô chuyển nhượng đất đai dưới mọi hình thức; do đó, khi có tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Tòa án giải quyết như sau:

a.Về nguyên tắc chung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai được xác lập trong thời điểm từ ngày 01/7/1980 đến trước ngày 15/10/1993 là hợp đồng trái pháp luật; do đó nếu có tranh chấp mà hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa được thực hiện thì Tòa án hủy hợp đồng vì hợp đồng bị vô hiệu. Việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu được thực hiện theo hướng dẫn tại tiều mục 2.3 mục 2 này.

b.3. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 mục 2.3 mục 2 này, nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố.... và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Tòa án công nhận hợp đồng. Nếu bên nhận chuyển nhượng chỉ làm nhà trên một phần đất, thì Tòa án công nhận phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất có nhà ở và hủy phần hợp đồng đối với diện tích đất còn lại, buộc bên nhận chuyển nhượng giao trả phần đất đó cho bên chuyển nhượng, trừ trường hợp việc giao trả không bảo đảm mục đích sử dụng ch cả hai bên giao kết hợp đồng, đồng thời

buộc các bên thanh tóan cho nhau phần chênh lệch”.

Quá trình giải quyết ông V chỉ thừa nhận đã chuyển nhượng cho ông H ½ diện tích đất của thửa đất số 20, tờ bản đồ số 3C tại thôn C, xã V, huyện P, Hà Nội, diện tích là 211m2 đất, với giá 06 chỉ vàng và sau khi chuyển nhượng ông V đã dùng số tiền này để mua diện tích nhà ở S. Gia đình ông H xác nhận sau khi nhận chuyển nhượng gia đình ông đã xây dựng các công trình trên ½ diện tích đất còn ½ diện tích đất gia đình ông chỉ trồng rau.

Mặt khác, ông H và bà T1 đều cho rằng tại thời điểm ông V mua đất ở S thì vợ chồng có lên trực tiếp trả tiền cho bà S1 (Là người bán đất cho ông V), ông H có ký vào giấy mua bán đất giữa ông V và bà S1, có biết các thỏa thuận mua bán đều được thể hiện bằng văn bản; trong việc mua bán ông H là người yếu thế hơn nhưng ông H lại không yêu cầu ông V phải có giấy xác nhận việc mua bán đất trong bao nhiều năm qua.

Từ những căn cứ trên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vĩnh hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng đối với diện tích mà ông H chưa xây dựng các công trình kiên cố trên đất và buộc ông H phải trả lại cho ông V 1/2 diện tích đất tương đương 211m2 đất là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

* Đối với yêu cầu thanh toán công sức tôn tạo đất, quản lý đất của gia đình ông H: Quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay gia đình ông H cho rằng quá trình quản lý sử dụng diện tích đất trên, gia đình ông H gồm ông H, bà T1 cùng các con là anh T2, anh T3, chị C, chị N đã có nhiều công sức đóng góp tôn tạo, làm tăng giá trị đất. Tuy nhiên gia đình ông H không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh về công sức tôn tạo. Xét thấy tại phiên tòa hôm nay các đương sự đều xác nhận quá trình quản lý sử dụng gia đình ông H đã đổ đất lấp ao, và trồng hoa màu trên đất, nên cần buộc ông V phải thanh toán các khoản công sức này cho gia đình ông H là phù hợp, tuy nhiên để đảm bảo quyền lợi cho ông V, khi tính toán công sức cũng cần khấu trừ đi các khoản gia đình ông H đã thu hoa lợi trên diện tích 211m2 đất ông V không chuyển nhượng cho ông H, với thời gian trên 30 năm quản lý, sử dụng, cần trích trả công sức cho gia đình ông H bao gồm các loại thuế, phí (Do gia đình ông H nộp trong quá trình sử dụng đất), hoa màu, cây cối; các công trình hiện có như hàng rào, công đổ đất, tôn nền, san lấp... trên phần đất ông V phải trả lại cho gia đình ông H là 30% diện tích đất. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông V phải trả lại cho gia đình ông H công sức tôn tạo tương đương 63m2 đất là phù hợp.

Quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay các thành viên trong gia đình đều không có yêu cầu cụ thể của mình và cũng không có đề nghị tách tính riêng phần công sức tôn tạo và đề nghị Tòa giao cho ông H thay gia đình nhận phần đất này, do vậy giao toàn bộ phần diện tích 63m2 đất là công sức tôn tạo của gia đình ông H cho ông H đại diện gia đình nhận là phù hợp.

Ngoài ra quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với diện tích đang tranh chấp. Theo đó diện tích đất đang tranh chấp hiện nay qua đo đạc thực tế là 472,2m², tăng thêm 50,2m2. Xét thấy quá trình giải quyết, ông V yêu cầu ông H trả lại ½ diện tích đất là 211m2 trong tổng số 422m2 và có yêu cầu được giao ½ diện tích đất tăng thêm để sử dụng. Tại phiên tòa hôm nay gia đình ông H xác nhận quá trình quản lý sử dụng gia đình ông H không lấn đất của ai. Tuy nhiên, các bên đều thừa nhận trước đây mẹ các ông chỉ cho ông V 422m2 đất, quá trình sử dụng đất ông V không thực hiện việc đo kiểm tra, ngược lại gia đình ông H đã sử dụng trong thời gian rất lâu. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm giao cho gia đình ông H được tiếp tục quản lý sử dụng phần diện tích đất chênh lệch này là phù hợp.

* Đối với yêu cầu gia đình ông H chấm dứt việc cản trở ông V thực hiện quản lý, sử dụng diện tích đất trên: Hội đồng xét xử xét thấy tại Đơn khởi kiện của ông V không có nội dung này, tuy nhiên xuyên suốt quá trình giải quyết và tại phiên tòa, ông V và người đại diện theo ủy quyền của ông V có đưa ra yêu cầu này, xét việc đưa ra yêu cầu nhằm giải quyết triệt để vụ án và cũng không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên có căn cứ chấp nhận.

* Đối với yêu cầu độc lập của bà Đỗ Thị T1: Hội đồng xét xử xét thấy, như đã phân tích ở trên, bà T1 cho rằng các bên đã mua bán chuyển nhượng tòan bộ thửa đất trên. Tuy nhiên quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay bà T1 không đưa ra được các tài liệu, chứng cứ chứng minh, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của bà T1 là có căn cứ.

Từ những phân tích trên xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đặng Quang H và bà Đỗ Thị T1. Nên giữ nguyên bản án sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Hà Nội.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ, nên được chấp nhận.

* Về án phí: Do các đương sự đều là người cao tuổi, nên miễm toàn bộ án phí cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; Điều 296; khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

  • - Điều 3, 5 Luật Đất đai năm 1987;
  • - Điều 123, 129 và 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 02/2004/NQ- HĐTP ngày 10/8/2004, Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình.
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn V2.
  2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Hà Nội.
  3. Về án phí: Do các đương sự đều là người cao tuổi, nên miễn toàn bộ án phí cho các đương sự.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND huyện P;
  • - Chi cục THADS huyện P;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGÔ TUYẾT BĂNG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2025/DS-PT ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đòi tài sản là quyền sử dụng đất.

  • Số bản án: 138/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đòi tài sản là quyền sử dụng đất.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyêt tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi tài sản là quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là ông V và bị đơn là ông H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger