Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 138/2024/HSST

 

Ngày 25/9/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Như; Ông Lò Việt Hưng.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên tòa: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.

Ngày 25/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 141/2024/TLST-HS ngày 04/9/2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024 đối với bị cáo: Họ và tên: THÀO A M; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/01/1974, tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản N, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: 01/10; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Con ông Thào A S (không xác định được năm sinh, đã chết); và bà Vừ Thị D, sinh năm 1953; Gia đình bị cáo có 05 anh, em; bị cáo là con thứ nhất; bị cáo có vợ là Vàng Thị D1, sinh năm 1975; cư trú tại bản Nậm Pắt, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu (hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T trong một vụ án khác); Bị cáo có 03 người con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/4/2024, tạm giam từ ngày 15/4/2024, đến ngày 05/7/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay (có mặt).

Người bào chữa: Ông Nguyễn Mạnh H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (có mặt).

Người làm chứng:

  1. Hoàng Văn Đ, sinh năm 2004
  2. Lò Văn V, sinh năm 1999.

(Cả hai người làm chứng đều vắng mặt không rõ lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ ngày 03/4/2024, tại bản Nậm Pắt, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Thào A M gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch. Qua nói chuyện, Thào A M đã mua của người đàn ông đó 02 gói Heroine (đều được gói bằng các mảnh ni lon màu xanh) với giá 100.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Sau khi mua được H1, Thào A M mang về nhà tại bản N, xã T, huyện T sử dụng hết 01 gói. Gói Heroine còn lại, Thào A M cất giấu trong túi quần đang mặc không cho ai biết. Đến khoảng 13 giờ ngày 06/4/2024, khi Thào A M đang ở nhà thì có Hoàng Văn Đ (sinh năm 2004) và Lò Văn V (sinh năm 1999), đều cư trú tại bản Nà Hày, xã M, huyện T đến gặp Thào A M. Hoàng Văn Đ trực tiếp hỏi Thào A M: “có Heroine bán không ?”, M trả lời: “có”. Nghe thấy Mua trả lời, Lò Văn V đứng bên cạnh đưa cho Đến số tiền 50.000 đồng, Đ cầm tiền từ Viên rồi đưa lại cho Thào A M để mua Heroine. Nhận tiền từ Hoàng Văn Đ, Thào A M lấy trong túi quần đang mặc ra 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh ni lon màu xanh) đưa cho Lò Văn V. Sau đó, V đưa lại gói H1 cho Đ cầm. Mua được H1, Hoàng Văn Đ hỏi Thào A M cho Đ và V xin sử dụng Heroine tại nhà của M thì M đồng ý. Hoàng Văn Đ pha hết gói Heroine rồi chia ra 02 bơm kim tiêm (do Đ và V đã chuẩn bị từ trước). Đến đưa cho V một bơm tiêm sử dụng. Trong lúc Đến và V chuẩn bị sử dụng Heroine thì Thào A M xin Đến và V cho M sử dụng cùng. Đến và V đã chia cho M một ít Heroine (đã pha sẵn) cho vào bơm kim tiêm của M chuẩn bị từ trước rồi cùng nhau sử dụng hết bằng hình thức chích.

Sau khi sử dụng Heroine, Hoàng Văn Đ và Lò Văn V đi về đến bản Pá Liềng, xã T, huyện T thì bị Công an xã M, huyện T đưa về Công an xã Mường Kim lập biên bản sự việc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại đây, Hoàng Văn Đ và Lò Văn V khai nhận đã cùng nhau mua Heroine của Thào A M sử dụng. Căn cứ lời khai của Hoàng Văn Đ và Lò Văn V, Cơ quan điều tra đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Thào A M. Quá trình khám xét thu giữ trong túi vải đa màu sắc để trên giường ngủ của Thào A M số tiền 50.000 đồng do bán Heroine mà có.

Bản kết luận giám định số 421/KL-KTHS ngày 10/4/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: “số tiền 50.000 đồng gửi giám định là tiền thật”.

Vật chứng: số tiền 50.000 đồng và 01 túi vải hiện đang được bảo quản theo quy định.

Cáo trạng số 102/CT-VKS ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, truy tố bị cáo Thào A M phạm hai tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251/Bộ luật hình sự và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256/Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai những người làm chứng Hoàng Văn Đ, Lò Văn V phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Thào A M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy và tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 256 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 38/Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt bị cáo Thào A M mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội Chứa chấp việc sử dụng bán trái phép chất ma túy; Tổng hợp hình phạt của cả hai tội. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí HSST cho bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng do bán trái phép chất ma túy mà có của Thào A M. Tịch thu 01 túi vải đã qua sử dụng của bị cáo và 01 phong bì niêm phong vật chứng để tiêu huỷ.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bảo chữa: Bị cáo Thào A M là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp, khả năng nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế. Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Hoàn cảnh gia đình khó khăn do vợ bị cáo bị tạm giam về một tội phạm khác, bản thân bị cáo bị nhiễm HIV. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt đối với cả hai tội danh. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí HSST cho bị cáo.

Lời nói sau cùng, bị cáo Thào A M xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và người bào chữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42. Người bào chữa thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền quy định tại Điều 72, Điều 73/Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Sau khi mua được H1, Thào A M mang Heroine về nhà cất dấu để sử dụng và bán, đến khoảng 13 giờ ngày 06/4/2024, tại bản Nậm Pắt, xã T, huyện T, Thào A M đã cùng một lúc bán trái phép 01 Heroine cho 02 người là Hoàng Văn Đ, Lò Văn V lấy số tiền 50.000 đồng. Ngay sau đó, Thào A M đã đồng ý cùng một lúc cho hai người là Hoàng Văn Đ và Lò Văn V sử dụng trái phép Heroine bằng hình thức chích tại nhà thuộc quyền quản lý của mình tại bản Nậm Pắt, xã T, huyện T. Giữ người và khám xét trong trường hợp khẩn cấp đối với Thào A M, Cơ quan điều tra thu giữ số tiền 50.000 đồng do bán Heroine mà có. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 và d khoản 2 Điều 256/Bộ luật hình sự.

[3]. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi bị cáo Thào A M thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Ma tuý đang là nỗi nhức nhối trong đời sống xã hội, và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó mọi hành vi phạm tội liên quan tới ma tuý cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4]. Về mục đích phạm tội của bị cáo: Thào A M là đối tượng nghiện chất ma túy, mục đích mua trái phép chất ma túy ngoài việc sử dụng cho bản thân, bị cáo còn bán lại cho các đối tượng nghiện chất ma túy khác và tạo điều kiện cho các đối tượng nghiện sử dụng chất ma túy tại nơi ở của mình nhằm thu lời bất chính.

[5]. Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thào A M được sinh ra trong gia đình lao động, nhưng không chịu khó tu dưỡng, làm ăn chân chính mà lại ăn chơi đua đòi, bị nghiện chất ma túy. Để có ma túy thỏa mãn nhu cầu của bản thân và bán lại cho các đối tượng nghiện chất ma túy khác, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Không những vậy, bị cáo còn chứa chấp 02 người sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố các hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ. Cần có một mức án tương xứng với các hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp để bị cáo có điều kiện cải tạo, cai nghiện trở thành người có ích.

Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp, khả năng nhận thức pháp luật còn có phần hạn chế, bị cáo còn phải một mình nuôi con dưới 18 tuổi do vợ bị cáo đang bị tạm giam. Người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt đối với cả hai tội danh là có căn cứ chấp nhận. Vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Thào A M không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52/Bộ luật hình sự.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghề nghiệp chính là trồng trọt, điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khỏa 5 Điều 251 và khoản 3 Điều 256/Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[7]. Về vật chứng: Đối với số tiền 50.000 đồng, Thào A M có được do bán trái phép chất ma túy mà có, cần phải tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước. Chiếc túi vải đa màu sắc đã qua sử dụng, bị cáo cất dấu Heroine và 01 phong bì niêm phong vật chứng, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu đến tiêu huỷ.

[8]. Về vấn đề liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc H1, bị cáo Thào A M khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch tại bản Nậm Pắt, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Hoàng Văn Đ và Lò Văn V, sau khi mua được H1 đã cho Thào A M cùng sử dụng Heroine. Xét thấy đây là hành vi đơn giản của người nghiện có chất ma túy cho người nghiện khác cùng sử dụng trái phép, không có sự chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý Hoàng Văn Đ và Lò Văn V về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Văn Đ và Lò Văn V, Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính là phù hợp.

[9]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên toà bị cáo đề nghị miễn án phí nên sẽ được miễn án phí HSST.

[10]. Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục áp dụng biện pháp Bảo lĩnh đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 256, Điều 38, Điều 55, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 12/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thào A M 07 (bảy) tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 07 (bảy) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung của cả hai tội là 14 (mười bốn) năm tù. Bị cáo được trừ 03 (ba) tháng 01 (một) ngày giam, giữ nay buộc bị cáo phải chấp hành tiếp 13 (mười ba) năm 08 (tám) tháng 29 (hai mươi chín) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào các cơ sở giam, giữ để chấp hành hình phạt tù.

3. Về vật chứng: Tịch thu 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) tiền bán trái phép chất mà có của Thào A M để sung vào ngân sách Nhà nước. Tịch thu 01 túi vải đa màu sắc đã qua sử dụng và 01 phong bì niêm phong vật chứng để tiêu huỷ.

Vật chứng, đồ vật nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/9/2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên.

4. Về án phí: Bị cáo Thào A M được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp Lai Châu;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - Nhà TG, Cơ quan THAHS, Cơ quan
  • CSĐT Công an huyện Than Uyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Trung Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/HSST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma tuý và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 138/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thào A M bán trái phép chát ma tuý cho nhiều người và cho họ sử dụng MT tại nơi ở của mình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger