|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 138/2024/HS-ST Ngày 10-6-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Dựa.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Vũ Huy Hoàng
- 2/ Bà Nguyễn Thị Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mai N - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và Tên: Lâm Văn L, sinh năm 1995 tại tỉnh Bình Định; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm A, thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; Chỗ ở: không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Lâm Văn V và bà Nguyễn Thị P; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/8/2023 cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Võ Vũ L1, sinh năm: 2004;
Địa chỉ: Số G, đường D, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Thành S, sinh năm 1994
Địa chỉ: B đường số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1996
Địa chỉ: A khu phố A, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Ông Nguyễn Phi H, sinh năm 1997
Địa chỉ: C T, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Bà Huỳnh Thị Hồng C, sinh năm 2003
Địa chỉ: A khu phố A, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1990
Địa chỉ: Tổ D Ô, khu phố H, L, L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
Trẻ Nguyễn Thị Ngọc C1, sinh ngày 16/7/2009
Đ chỉ: Ấp E, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai
Người giám hộ cho trẻ C1: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Ấp E, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên Lâm Văn L nảy sinh ý định cướp tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài. Ngày 26/7/2023, Lâm Văn L nhặt được một con dao bấm trên đường L kế địa chỉ 6 L, khu phố I, phường B, quận B rồi cất giữ trong người. Đến ngày 28/7/2023, L một mình đi ra Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nhưng trong người vẫn mang theo con dao bấm). Khoảng 02 giờ 30 phút, cùng ngày, Lâm Văn L bắt xe máy công nghệ “Gojek” do anh Võ Vũ L1 điều khiển đi từ đường H, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh về nhà tại phường T, quận B. Sau đó, anh Võ Vũ L1 điều khiển chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, biển số 66K1-177.86 chở L1 đi. Trên đường đi thì Lâm Văn L có mượn anh Võ Vũ L1 điện thoại để gọi cho Nguyễn Thị T (là người chung sống chung như vợ chồng với Văn L) nhưng T không nghe máy nên Lâm Văn L yêu cầu anh Võ Vũ L1 chở về hướng cầu Ô thuộc xã Q, huyện B trên đường đi thì Lâm Văn L có yêu cầu anh Võ Vũ L1 dừng xe hai lần để Lâm Văn L ói, sau đó cả hai tiếp tục đi, khi đến bãi đất trống trên đường N, tổ F, ấp D, xã Q, huyện B, lúc này, Lâm Văn L dùng tay phải lấy con dao bấm để trong túi quần trước bên phải, bấm lưỡi dao ra kề dao vào cổ bên phải của anh Võ Vũ L1 rồi yêu cầu anh Võ Vũ L1 đưa tài sản, cả hai xuống xe đi qua lề đường (cách xe mô tô khoảng 3-4m), khi qua tới lề đường thì Văn L bị trượt chân té xuống đất, lúc này anh Võ Vũ L1 thoát khỏi sự khống chế của Lâm Văn L, thấy vậy Lâm Văn L chạy lại giật chiếc điện thoại hiêu S Galaxy J6 gắn trên xe mô tô biển số 66K1-177.86 của anh Vũ L1 rồi bỏ vào túi quần chạy đi khoảng 02m rồi quay lại với mục đích cướp chiếc xe mô tô biển số 66K1-177.86 để tẩu thoát. Lúc này, Lâm Văn L đưa con dao bấm qua tay trái để cầm rồi leo lên xe mô tô định điều khiển tẩu thoát thì anh Võ Vũ L1 chạy lại dùng tay không đánh vào đầu phía sau của Lâm Văn L, do bị đánh trả lại nên Lâm Văn L dùng dao bấm đâm ngang về phía anh Võ Vũ L1 trúng một cái vào lòng bàn tay trái, bị thương nhẹ. Lúc này, Lâm Văn 1 điều khiển xe mô tô biển số 66K1-177.86 tẩu thoát, rồi vứt con dao bấm lại.
Sau khi cướp được xe mô tô biển số 66K1-177.86, Lâm Văn L điều khiển xe đi về hướng Quận H, đến tiệm cầm đồ “Nhuận Phát” địa chỉ: C T, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Văn L vào gặp Nguyễn Phi H (là nhân viên cầm đồ) để coi xe thì anh H hỏi xe này có giấy tờ không, Văn L nói là xe bị mất giấy tờ và đưa ra 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 sổ hộ khẩu (bản photo) mang tên Văn L nên H đồng ý cầm với số tiền 3.000.000 đồng. Sau khi cầm xe xong, Văn L đón xe ôm đi về nhà, trên đường đi do cần thêm tiền nên Văn L quay lại tiệm cầm đồ gặp anh H yêu cầu anh H đưa thêm tiền cầm xe 1.000.000 đồng nữa, H đồng ý, nhận thêm tiền xong Văn L đón xe về nhà tại quận B, gặp Nguyễn Thị T và đưa cho T số tiền 1.800.000 đồng để chi tiêu sinh hoạt gia đình, số tiền còn lại Lâm Văn L tiêu xài hết, còn chiếc điện thoại Samsung Galaxy J6, Lâm Văn L vẫn giữ lại. Đến ngày 06/8/2023, Nguyễn Thị T về quê tại Tỉnh Đồng Nai, để thăm con gái riêng tên là Nguyễn Thị Ngọc C1 nên T có hỏi Văn L là chiếc điện thoại S2 J6 có xài nữa không nếu Văn L không xài thì cho T để T cho con ruột để sử dụng và T không nói cho cháu C1 biết chiếc điện thoại từ đâu mà có, khi cháu C1 làm việc với Cơ quan Công an thì C1 mới biết chiếc điện thoại trên là tài sản liên quan đến vụ cướp tài sản ngày 28/7/2023, tại xã Q, huyện B nên tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an.
Ngày 08/8/2023, Lâm Văn L sử dụng tài khoản “Tran My” lên mạng Facebook thì liên lạc được với Nguyễn Thành S. Sau đó, Lâm Văn L và Nguyễn Thành S thỏa thuận được giá bán xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 66K1-177.86 là 5.000.000 đồng, Lâm Văn L hẹn S đến tiệm C2 để lấy xe, tại đây S thanh toán số tiền 4.520.000 đồng tiền chuộc xe (gồm: số tiền cầm xe là 4.000.000 đồng chuyển khoản; tiền lãi 400.000 đồng; tiền bãi giữ xe là 120.000 đồng), sau khi thanh toán tiền Cho H thì anh H dẫn Lâm Văn L và S đến địa chỉ H C, phường D, Quận H để lấy xe, khi nhận lại xe từ H thì Lâm Văn L giao xe lại cho S và nhận thêm 700.000 đồng từ S. Tổng số tiền Lâm Văn L bán xe là 5.220.000 đồng. Sau đó, Lâm Văn L về nhà cho T 200.000 đồng, số tiền còn lại Lâm Văn L tiêu xài hết.
Khi mua được xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 66K1-177.86 S sử dụng tài khoản Messenger “Thành Sơn” liên hệ với Nguyễn Văn D qua tài khoản Messenger “Văn Đại”, S nói mới mua được chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 66K1-177.86 không có giấy đăng ký xe nhưng có CMND, sổ hộ khẩu của chủ xe hiện muốn bán xe với giá 6.700.000 đồng, S có chụp hình xe gửi Du xem và D đồng ý mua xe nên S điều khiển xe đến nhà không số, tổ A, khu phố A, thị trấn T, huyện B giao xe cho D với giá 6.700.000 đồng.
Sau khi mua được xe, Nguyễn Văn D sử dụng tài khoản Facebook “Văn Đại” đăng hình lên để bán, thì Nguyễn Văn Q là anh ruột của D (hiện Du chỉ biết Q đang làm việc tại huyện B, tỉnh Long An chứ không rõ địa chỉ) liên hệ qua ứng dụng Messenger của Q là “Keny N2” hỏi D mua xe, D đồng ý bán với giá 8.300.000 đồng. Q đến nhà D để lấy xe, D giao xe cho Q, Q xin lại Du 100.000 đồng nên Q đưa cho D 8.200.000 đồng rồi điều khiển xe rời đi. Đến ngày 11/8/2023, Huỳnh Thị Hồng C là vợ của Nguyễn Văn D biết D bị Cơ quan Công an mời lên làm việc do có liên quan đến mua bán xe mô tô biển số 66K1-177.86 nên C liên hệ với Q để chuộc lại lại xe nhưng Q đã bán xe trên cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 9.000.000 đồng và Q cho C số điện thoại 0939.195.xxx để liên lạc, và người đàn ông này đồng ý cho chuộc lại xe với giá 11.000.000 đồng và hẹn C đến cầu M thuộc huyện G, tỉnh Tiền Giang nhận lại xe. Sau đó, C đưa xe đến Công an huyện B giao nộp, bên trong xe có 01 giấy CMND (bản photo) và 01 sổ hộ khẩu (bản photo) có tên Lâm Văn L.
Tại Cơ quan điều tra, Lâm Văn L đã thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai bị hại, nhân chứng, biên bản thực nghiệm điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Ngày 19/9/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B có kết luận số 2744/ KL-HĐĐGTS xác định trị giá 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, biển số 66K1-177.86 có giá trị là 15.800.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu S2 J6+ J610 có giá trị 500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 16.300.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150, biển số 66K1-177.86 số khung: RLCUG0610FY069791, số máy: G3D4E078971 và 01 điện thoại di động hiệu S2 J6+J610. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định trao trả cho bị hại Võ Vũ L1 vào ngày 22/02/2024.
- 01 con dao bấm bằng kim loại do bị cáo Lâm Văn L vứt tại hiện trường vụ cướp ngày 28.7.2023. Qua rà soát, Cơ quan Cảnh sáy điều tra Công an huyện B không thu giữ được.
- 01 cái nón bảo hiểm màu xanh, đen có chữ “Gojek” màu trắng; 01 quần Jean màu đen, có ký hiệu ở túi quần phải phía sau # Y2010, Size 29 (thu giữ của Lâm Văn L khi thực hiện hành vi phạm tội).
- Số tiền 2.000.000 đồng (đây là số tiền mà Lâm Văn L cầm xe có được đưa cho Nguyễn Thị T và T đã giao nộp lại).
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng, cùng sim số 0386677488 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu đen, cùng sim số 0345916259. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định trao trả cho anh Nguyễn Thanh S1 và Nguyễn Văn D vào ngày 04/3/2024.
- 02 USB bên trong chứa đoạn clip ghi hình Lâm Văn L tại tiệm C2 và đoạn clip ghi nhận hình ảnh sự việc bị cáo Lâm Văn L cướp tài sản; 01 hóa đơn giá trị gia tăng số 0302742 về việc mua bán điện thoại di động hiệu S2 J6+J610 Blach; 01 chứng minh nhân dân tên Lâm Văn L; 01 sổ hộ khẩu số [...] (bản photo). Hiện cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B lưu theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Vũ L1 đã nhận lại tài sản bị cướp và không yêu cầu bồi thường gì, chị Huỳnh Thị Hồng C cũng không yêu cầu bồi thường gì.
Tại bản Cáo trạng số: 124/CT-VKSBC ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lâm Văn L về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo từ 08 - 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”.
Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét thấy lời khai tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy đủ cơ sở xác định bị cáo Lâm Văn L đã thực hiện hành vi: Khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 28/7/2023, Lâm Văn L dùng tay phải lấy con dao bấm để trong túi quần trước bên phải, bấm lưỡi dao ra kề dao vào cổ bên phải của anh Võ Vũ L1 rồi yêu cầu anh Võ Vũ L1 để cướp tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J6+J610 và xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150, biển số 66K1-177.86 tại bãi đất trống trên đường N, tổ F, ấp D, xã Q, huyện B.
[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác. Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng vì tham lam, vụ lợi, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại, qua định giá là 16.300.000 đồng.
[3] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Cướp tài sản”. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo sử dụng con dao bấm bằng kim loại làm phương tiện phạm tội và cướp tài sản trong lúc bị hại đang điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường là rất nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của bị hại và của người khác nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm. Đây là tình tiết tăng nặng định khung được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương, do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một khoản thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Khi bị cáo Lâm Văn L lấy con dao bấm để trong túi quần trước bên phải, bấm lưỡi dao ra kề dao vào cổ bên phải của anh Võ Vũ L1 rồi yêu cầu anh Võ Vũ L1 để cướp tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J6+J610 sau đó bị cáo đi được khoảng 02 m sau đó quay lai cướp xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150 biển số 66K1-177.86. Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo thực hiện hai hành vi cướp tài sản và mỗi hành vi của bị cáo đều cấu thành tội cướp tài sản do đó cần áp dụng điểm g khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Đối với việc bị cáo Lâm Văn L dùng dao bấm đâm gây thương tích cho bị hại Võ Vũ L1, do thương tích không ảnh hưởng đến sức khỏe của bị hại L1 nên xin từ chối giám định thương tật. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B không có cơ sở xử lý.
[6] Đối với Nguyễn Phi H, Nguyễn Thanh S1, Nguyễn Văn D, Huỳnh Thị Hồng C. Quá trình điều tra do H, S1, D, C không biết xe mô tô Exciter 150, biển số 66K1-177.86 là tài sản do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B không xử lý.
[7] Đối với Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Ngọc C1 không biết số tiền 2.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu S2 J6+ là tài sản do Lâm Văn L phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
[8] Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150, biển số 66K1-177.86 số khung: RLCUG0610FY069791, số máy: G3D4E078971 và 01 điện thoại di động hiệu S2 J6+J610. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định trao trả cho bị hại Võ Vũ L1 vào ngày 22/02/2024 nên không xét.
- 01 con dao bấm bằng kim loại do bị cáo Lâm Văn L vứt tại hiện trường vụ cướp ngày 28/7/2023. Qua rà soát, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B không thu giữ được nên không xét.
- 01 cái nón bảo hiểm màu xanh, đen có chữ “Gojek” màu trắng; 01 quần Jean màu đen, có ký hiệu ở túi quần phải phía sau # Y2010, Size 29 (thu giữ của Lâm Văn L khi thực hiện hành vi phạm tội). Những vật chứng này không có giá trị hoặc bị thu giữ lâu không sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền 2.000.000 đồng (đây là số tiền mà Lâm Văn L cầm xe có được đưa cho Nguyễn Thị T và T đã giao nộp lại). Đây là tiền phạm tội mà có tịch thu sung quỹ nhà nước.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng, cùng sim số 0386677488 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu đen, cùng sim số 0345916259. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định trao trả cho anh Nguyễn Thanh S1 và Nguyễn Văn D vào ngày 04/3/2024 nên không xét.
- 02 USB bên trong chứa đoạn clip ghi hình Lâm Văn L tại tiệm C2 và đoạn clip ghi nhận hình ảnh sự việc bị cáo Lâm Văn L cướp tài sản; 01 hóa đơn giá trị gia tăng số 0302742 về việc mua bán điện thoại di động hiệu S2 J6+J610 Black; 01 chứng minh nhân dân tên Lâm Văn L; 01 sổ hộ khẩu số [...] (bản photo). Hiện cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B lưu theo hồ sơ vụ án. Bảo lưu hồ sơ vụ án.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Vũ L1 đã nhận lại tài sản bị cướp và không yêu cầu bồi thường gì, chị Huỳnh Thị Hồng C cũng không yêu cầu bồi thường gì. Hội đồng xét xử ghi nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận một phần quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo cũng như xử lý vật chứng vụ án và chấp nhận đề nghị của bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm d, khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Xử phạt bị cáo Lâm Văn L 11 (mười một) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/8/2023.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 cái nón bảo hiểm màu xanh, đen có chữ “Gojek” màu trắng; 01 quần Jean màu đen, có ký hiệu ở túi quần phải phía sau # Y2010, Size 29 thu giữ của Lâm Văn L.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: Số tiền 2.000.000 đồng
- Bảo lưu hồ sơ vụ án: 02 USB bên trong chứa đoạn clip ghi hình Lâm Văn L tại tiệm C2 và đoạn clip ghi nhận hình ảnh sự việc bị cáo Lâm Văn L cướp tài sản; 01 hóa đơn giá trị gia tăng số 0302742 về việc mua bán điện thoại di động hiệu S2 J6+J610 Black; 01 chứng minh nhân dân tên Lâm Văn L; 01 sổ hộ khẩu số [...] (bản photo).
(Các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2024 giữa công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh và Giấy nộp tiền và kho bạc nhà nước ngày 10/4/2024).
*Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Dựa |
Trương Văn Dựa
Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 138/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội cướp tài sản
