Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 138/2024/HSST

Ngày: 04-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Trọng Di

+ Ông Ngô Anh Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Bích Hà Vy- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong

Đại diện Viện kiểm sát huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhật Văn - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 165/2024/HSST, ngày 20/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2024/QĐXXST-HS, ngày 21/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Nguyễn Thúy V, Giới tính: Nữ; sinh ngày: 08/11/2006, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: khu phố D, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: không; Cha: Phạm Thanh H, sinh năm: 1973 và mẹ: Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1980, hiện ở: khu phố D, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; A, chị, em ruột: 01 người, sinh năm 2011; Chồng, con: Chưa có.

Người đại diện thep pháp luật của bị cáo: Ông Phạm Thanh H, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1980; Cùng nơi cư trú: khu phố D, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; (Có mặt).

Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 tiền sự; Tại quyết định số 29/2024/QĐ-TA ngày 07-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Nguyễn Thúy V trong thời hạn 12 tháng, chưa chấp hành.

Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Nguyễn Thúy V là đối tượng nghiện ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào chiều ngày 14/6/2024, V đi đến khu vực nhà trọ T2 thuộc thôn L, xã P, huyện T để tìm người một người thanh niên tên B (không rõ nhân thân lai lịch) mục đích hỏi xin ma túy về sử dụng. Do trước đó V đã nhiều lần mua ma túy của B nên lần này khi gặp B thì V nói với B không có tiền nên B đã đồng ý và đưa cho V 01 gói nylon chứa ma túy đá cùng với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. V cất giấu gói nylon chứa ma túy đá vào quần lót của V đang mặc và cất giấu 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá vào bên trong túi áo khoác phía trước bên trái rồi đi bộ về lại thị trấn L, huyện T để tìm nơi sử dụng ma túy. Đến khoảng 17 giờ 45 phút ngày 15/6/2024, khi V đi đến khu vực đường Q phía trước cổng Ban chỉ huy quân sự huyện T thuộc khu phố E, thị trấn L, huyện T thì bị lực lượng Công an thị trấn L, huyện T đang tiến hành tuần tra phát hiện V có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành đưa Phạm Nguyễn Thúy V về trụ sở Công an thị trấn L để kiểm tra. Tại đây, Công an thị trấn L đã phát hiện bắt quả tang Phạm Nguyễn Thúy V đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ bên trong túi áo khoác phía trước bên trái của V đang mặc có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bên trên có gắn một đoạn ống thủy tinh kích thước 13cm được uốn cong, tại phần đầu uốn cong bị vỡ. Tiếp tục, kiểm tra trên người của V phát hiện thu giữ bên trong quần lót V đang mặc có 01 gói nylon không màu, có nẹp khóa một đầu màu xanh, kích thước (03 x 2.5)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng.

Tại bản kết luận giám định về ma túy số 687/KL-KTHS ngày 30/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng là 0,4761gam là Methamphetamine.

Về tang vật chứng:

Đã chuyển vào kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon không màu, có khóa kéo viền xanh cùng 0,4478 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 684 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn đỏ của Phòng K- Công an tỉnh B và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bên trên có gắn một đoạn ống thủy tinh kích thước 13cm được uốn cong, tại phần đầu uốn cong bị vỡ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 168/QĐ/KSĐT/VKS/HS, 19/11/20224 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phạm Nguyễn Thúy V từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon không màu, có khóa kéo viền xanh cùng 0,4478 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 684 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bên trên có gắn một đoạn ống thủy tinh kích thước 13cm được uốn cong, tại phần đầu uốn cong bị vỡ.

Đối với người thanh niên tên B tại khu vực nhà trọ T2 thuộc thôn L, xã P, huyện T đã bán Methamphetamine cho Phạm Nguyễn Thúy V do chưa rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Bị cáo Phạm Nguyễn Thúy V thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố và việc truy tố bị cáo là đúng, không oan, bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra – Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Phạm Nguyễn Thúy V không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: khoảng 17 giờ 45 phút ngày 15-6-2024, tại khu vực đường Q phía trước cổng Ban chỉ huy quân sự huyện T thuộc khu phố E, thị trấn L, huyện T lực lượng Công an thị trấn L, huyện T đang tiến hành tuần tra phát hiện V có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành đưa Phạm Nguyễn Thúy V về trụ sở Công an thị trấn L để kiểm tra. Công an thị trấn L đã phát hiện bắt quả tang Phạm Nguyễn Thúy V đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ bên trong túi áo khoác phía trước bên trái của V đang mặc có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bên trên có gắn một đoạn ống thủy tinh kích thước 13cm được uốn cong, tại phần đầu uốn cong bị vỡ. Tiếp tục, kiểm tra trên người của V phát hiện thu giữ bên trong quần lót V đang mặc có 01 gói nylon không màu, có nẹp khóa một đầu màu xanh, kích thước (03 x 2.5)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Tại bản kết luận giám định về ma túy số 687/KL-KTHS ngày 30/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng là 0,4761gam là Methamphetamine. Hành vi cất giấu ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 0,4761 gam của bị cáo Phạm Nguyễn Thúy V nhằm mục đích sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có nhận thức về hành vi phạm tội của mình nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, làm tăng tệ nạn nghiện chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo ở mức nhẹ hơn so với mức áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương tự. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo. Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[5] Xử lý vật chứng: Toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon không màu, có khóa kéo viền xanh cùng 0,4478 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 684 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bên trên có gắn một đoạn ống thủy tinh kích thước 13cm được uốn cong, tại phần đầu uốn cong bị vỡ. Xét thấy đây là vật không có giá trị sử dụng và là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại a khoản 1 Điều 46; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Đ a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 là phù hợp.

[6] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người thanh niên tên B tại khu vực nhà trọ T2 thuộc thôn L, xã P, huyện T đã bán Methamphetamine cho Phạm Nguyễn Thúy V do chưa rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

[7] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    Tuyên bố bị cáo Phạm Nguyễn Thúy V phạm T1 “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt bị cáo Phạm Nguyễn Thúy V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon không màu, có khóa kéo viền xanh cùng 0,4478 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 684 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bên trên có gắn một đoạn ống thủy tinh kích thước 13cm được uốn cong, tại phần đầu uốn cong bị vỡ (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/11/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong).

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • -VKSND huyện Tuy Phong;
  • -CA huyện Tuy Phong;
  • -THADS huyện Tuy Phong;
  • -Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • -Bị cáo;
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Kiêm Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/HSST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 138/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ: khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Phạm Nguyễn Thúy V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Phạm Nguyễn Thúy V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger