Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2024/HS-ST

Ngày: 23-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phương;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Thái và ông Võ Thanh Đức;

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã La Gi;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tham gia phiên tòa: ông Hoàng Kim Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 142/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2024/QĐST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN Ú (tên gọi khác: H), sinh năm: 1997, tại Bình Thuận.

HKTT: Khu phố 9, phường Bình Tân, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

Chỗ ở hiện nay: Khu phố I, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;

Nghề nghiệp: Lao động biển; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Ngô E và bà Nguyễn Thị Đ;

Vợ, con: chưa có;

Gia đình có 05 anh em; Bị cáo là con út;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 14/7/2022, bị Toà án nhân dân thị xã La Gi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng tại Quyết định số 24/QĐ-TA, chấp hành xong vào ngày 21/4/2024.

Bị cáo Nguyễn Văn Ú bị bắt từ ngày 29/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an thị xã L. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Lê Thành Đ1, sinh năm: 2016, tại Bình Thuận. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố A, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Người giám hộ của bị hại: Lê Văn M, sinh năm: 1985(vắng mặt); bà Lê Thị L, sinh năm: 1984 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố A, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phan Lê Thanh T, sinh năm: 2008, tại Bình Thuận. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố A, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

- Người làm chứng:

+ Bùi Anh Đ2, sinh năm: 2015 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố E, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Người giám hộ của người làm chứng Bùi Anh Đ2: Ông Bùi Anh M1, sinh năm: 1975 (Vắng mặt)

Địa chỉ: khu phố E, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

+ Hoàng Minh C, sinh năm: 2015 (Vắng mặt)

Địa chỉ: khu phố A, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Người giám hộ của người làm chứng Hoàng Minh C: Bà Trần Thị Ngọc H1, sinh năm: 1977 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố A, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 28/7/2024, Nguyễn Văn Ú đi bộ từ nhà qua khu phố A, phường B, thị xã L để mua ma tuý sử dụng. Khi đi qua đường hẻm bê tông thuộc khu phố A, phường B, thị xã L thì thấy các cháu Lê Thành Đ1, sinh năm: 2016, Hoàng Minh C, sinh năm 2015 và Bùi Anh Đ2, sinh năm 2015 đang cầm điện thoại di động chơi game trước nhà bà Trần Thị H1 thuộc khu phố A, phường B, thị xã L. Cả 03 ngồi cách lan can phía trước nhà khoảng 0,5 mét. Ú đi qua được khoảng 100 mét thì nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại bán lấy tiền mua ma tuý sử dụng nên quay lại chỗ Đ1, C và Đ2. Lúc này, thấy cả 03 cháu vẫn đang mải cầm điện thoại chơi game nên Ú thò tay trái qua lan can cao 1,34 mét, giật mạnh chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A54, màu xanh của Đ1 đang cầm trên tay. Thấy vậy, cháu Bùi Anh Đ2 la lên thì Ú nhanh chóng tẩu thoát về hướng khu phố A, phường B, sau đó đi về nhà để tìm cách tiêu thụ tài sản.

Ngay sau khi bị giật điện thoại, cháu Đ1 cùng gia đình đến Công an phường B trình báo. Trong tối cùng ngày, Công an phường B đã làm việc với Nguyễn Văn Ú và Ú thừa nhận hành vi cướp giật điện thoại của cháu Đ1. Đồng thời giao nộp cho Công an phường chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A54, màu xanh.

Tại Kết luận định giá tài sản số 85/KL-ĐGTS ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thị xã L kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A54, màu xanh, đã qua sử dụng, còn hoạt động có giá trị là 1.500.000 đồng.

Vật chứng là chiếc điện thoại nêu trên đã được Cơ quan điều tra trả lại cho Lê Thành Đ1 vào ngày 21/8/2024. Cháu Đ1 và người giám hộ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Cáo trạng số 144/CT-VKSLG-HS ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ú về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đã viện dẫn trong Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Văn Ú phạm tội “Cướp giật tài sản” như nội dung Cáo trạng, đồng thời xem xét các tình tiết giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ú từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Ý kiến của bị cáo: Đồng ý với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đã truy tố, đồng thời xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử.

    Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Ú đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 28/7/2024 tại khu phố A, phường B, thị xã L, Nguyễn Văn Ú đã thực hiện hành vi cướp giật chiếc điện thoại di dộng hiệu Oppo A54, màu xanh, trên tay của cháu Lê Thành Đ1 là người dưới 16 tuổi, sau đó nhanh chóng tẩu thoát. Chiếc điện thoại di dộng hiệu Oppo A54 do chị Phan Lê Thanh T tặng cho cháu Lê Thành Đ1.

    Tại Kết luận định giá tài sản số 85/KL-ĐGTS ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thị xã L kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A54, màu xanh, đã qua sử dụng, còn hoạt động có giá trị 1.500.000 đồng.

Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ú về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Ú là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh trật tự xã hội và quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bị cáo còn là đối tượng nghiện ma túy, có tiền sự liên quan đến ma túy, vì vậy, cần phải dành cho bị cáo mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để răn đe đối với bị cáo cũng như thông qua đó phòng ngừa tội phạm chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cai nghiện ma túy, cũng như rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội.

  1. Về vật chứng vụ án: Đã trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
  3. Về tình tiết tăng nặng: Không.
  4. Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Ú đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  5. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ú phạm tội “Cướp giật tài sản”.

    Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Ú 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 29/7/2024.

  2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Văn Ú phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - Công an thị xã La Gi;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Bình Thuận;
  • - NTG CA thị xã La Gi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục THADS thị xã La Gi;
  • - UBND địa phương bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 138/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn U 04 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger