TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 138/2024/HS-ST
Ngày: 29/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Minh Thuận.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Đoan Trang - Nghề nghiệp: Giáo viên - Hiệu trưởng Trường tiểu học Đống Đa, quận Bình Thạnh.
- Bà Trần Thị Tuyết Phương - Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Xuân Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Hà - kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Thành P
(tên gọi khác: Tin mập), sinh ngày 24 tháng 5 năm 2007 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà số H đường X, P, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: học sinh; trình độ học vấn: 10/12, con ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị Thu T; Nhà có 02 anh em và bị cáo là con lớn nhất.
Tiền án, tiền sự: không
Nhân thân:
Từ nhỏ đến nay sống cùng gia đình tại 886/27/12 đường X, P, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị bắt tạm giam từ ngày 05/9/2023 đến ngày 06/02/2024. Thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Anh H
(tên gọi khác: không), sinh ngày 16 tháng 7 năm 2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: L5 cư xá V, B, Phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: 407 lô E, cư xá T, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: học sinh; trình độ học vấn: 7/12, con bà Nguyễn Nhật Thanh H1; Bị cáo là con duy nhất.
Tiền án, tiền sự: không
Nhân thân:
Từ nhỏ đến nay sống cùng gia đình tại 407 lô E, cư xá T, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị bắt tạm giam ngày 05/9/2023; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
- - Người bào chữa chỉ định cho các bị cáo: Ông Lâm Quốc V - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
- - Bị hại: Em Phan Minh T1, sinh ngày 03 tháng 7 năm 2007 (có đơn xin xét xử vắng mặt). Người giám đại diện cho bị hại: Ông Phan Quốc V1, sinh năm 2002. Cùng địa chỉ: A U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn K, sinh năm 1992. Địa chỉ: A U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 01/9/2023, Nguyễn Thành P (sinh ngày: 24/5/2007) dùng tài khoản mạng xã hội Facebook gọi cho Nguyễn Anh H (sinh ngày: 16/7/2008) rủ H đi uống cà phê nên H đi bộ qua nhà P gặp P. Lúc này, P điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen, biển số: 54S1-2255 chở H đi lòng vòng tìm quán cà phê. Trên đường đi, P nảy sinh ý định cướp giật tài sản nên rủ H tham gia, H đồng ý nên cả hai đi lòng vòng tìm người có tài sản sơ hở để cướp giật. Đến khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, khi cả hai đi vào hẻm A N, Phường B, quận B thì P phát hiện em Phan Minh T1 (sinh ngày: 03/7/2007) đang điều khiển xe đạp đi một mình, trên tai đang đeo tai nghe. Biết em T1 có mang theo điện thoại nên P nói với H là sẽ giả bộ mượn điện thoại của em T1 còn H sẽ giật điện thoại của em T1, H đồng ý. Khi em T1 vừa đạp xe đến trước chung cư S (địa chỉ: 1 N, Phường B, quận B) thì P điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen, biển số: 54S1-2255 chặn em T1 lại và hỏi mượn điện thoại của em T1 để điện cho người thân, H ngồi sau lấy điện thoại của mình giơ ra cho T1 thấy nói là điện thoại hết pin. Em T1 tin nên lấy điện thoại của mình loại Iphone 13 màu đen ra và cầm trên tay. Lúc này, H liền dùng tay phải chồm qua giật điện thoại của em T1, P liền tăng ga điều khiển xe chở H tẩu thoát về hướng đường N, Phường B, quận B. Sau đó, P chở H qua cửa hàng Đ1 (địa chỉ: A U, Phường B, quận B) để bán điện thoại vừa giật được cho anh Hoàng Văn K (là chủ cửa hàng). Hào nói dối tên mình là Lê Thành Đ và nói điện thoại này là điện thoại nhặt được nên cần bán, anh K yêu cầu H viết cam kết điện thoại này không phải do phạm pháp mà có thì mới mua, H đồng ý nên anh K mua điện thoại trên với giá 3.000.000 đồng. Sau khi bán máy xong, H nói với P là chỉ bán máy được 2.000.000 đồng và chia cho P 1.000.000 đồng, số tiền còn lại Hào tiêu xài cá nhân hết.
Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B mời Nguyễn Thành P và Nguyễn Anh H về làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thành P và Nguyễn Anh H đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bản kết luận định giá số 69/KLĐGTS-TCKH ngày 08/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, dung lượng 128GB có giá trị là 12.000.000 đồng.
Vật chứng gồm:
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu đen, dung lượng 128GB, là tài sản của anh Phan Minh T1 nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T1.
- - 01 xe mô tô Honda Wave màu đen, biển số: 54S1-2255. Kết quả xác minh chiếc xe trên do ông Nguyễn Thành N (Cha ruột P) đứng tên chủ sở hữu. Ông N đưa xe máy cho P đi học, việc P dùng xe để đi cướp giật ông N không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho ông N.
- - 01 điện thoại di động hiệu S 10 (là tài sản cá nhân của P).
- - 01 quần jean dài màu đen, 01 áo thun polo màu đen, 01 đôi dép quai ngang màu trắng (là trang phục P mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản).
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus (là tài sản cá nhân của Nguyễn Anh H).
- - 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 áo khoác vải dài tay màu đen, 01 đôi dép xốp màu xám (là trang phục Hào mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản).
- - 01 USB lưu trữ video clip vụ cướp giật.
Trách nhiệm dân sự:
- + Anh Phan Minh T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm.
- + Ông Hoàng Văn K đề nghị bồi thường số tiền 3.000.000 đồng
Tại bản Cáo trạng số 126/CT-VKSBth ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Thành P và Nguyễn Anh H phạm tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với bị hại và xã hội. Xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các chưa thành niên còn là học sinh, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại. Gia đình bị cáo P đã khắc phục hậu quả cho người liên quan nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 90, 91 và điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo, đồng thời miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt đối với bị cáo: Nguyễn Thành P từ 02 năm đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm, miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Anh H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm, miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB lưu trữ video clip vụ cướp giật.
Tiêu hủy:
- - 01 quần jean dài màu đen, 01 áo thun polo màu đen, 01 đôi dép quai ngang màu trắng (là trang phục P mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản).
- - 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 áo khoác vải dài tay màu đen, 01 đôi dép xốp màu xám (là trang phục Hào mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản).
Trả lại cho bị cáo P: 01 điện thoại di động hiệu S 10 (là tài sản cá nhân của P).
Trả lại cho bị cáo H: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus (là tài sản cá nhân của Nguyễn Anh H).
Về trách nhiệm dân sự:
- + Trẻ Phan Minh T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm.
- + Ông Hoàng Văn K đề nghị bồi thường số tiền 3.000.000 đồng (Ông Nguyễn Thành N – cha của bị cáo Nguyễn Thành P đã bồi thường số tiền trên cho ông K theo giấy xác nhận ngày 11/9/2023).
Luật sư bào chữa hợp pháp cho các bị cáo có ý kiến: Thống nhất về tội danh và truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo như: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Khi phạm tội các chưa thành niên còn là học sinh tuổi đời 15, 16 nên nhận thức còn hạn chế, thiếu sự quan tâm của gia đình, phạm tội do bồng bột nhất thời, các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng án treo để tiếp tục đi học. Tài sản đã thu hồi trả cho bị hại. Gia đình cũng đã khắc phục hậu quả cho người liên quan nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 90, 91 và điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo để tiếp tục đi học, hứa sửa đổi bản thân để trở thành người tốt trong xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 18 giờ 20 phút ngày 01/9/2023, tại trước số A đường N, Phường B, quận B, Nguyễn Thành P và Nguyễn Anh H phát hiện trẻ Phan Minh T1 điều khiển xe đạp đi một mình, trên tai đeo tai nghe, biết T1 có mang điện thoại di động nên cả hai bàn bạc cướp giật điện thoại của T1. P chặn xe T1 hỏi mượn điện thoại, khi T1 vừa đưa điện thoại ra thì H ngồi sau dùng tay phải giật lấy và cả hai tăng ga bỏ chạy. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản”.
[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo tuy là người chưa thành niên nhưng nhận thức rõ được hành vi cướp giật tài sản là hành vi pháp luật nghiêm cấm, ảnh hưởng đến trật tự xã hội. Các bị cáo đã lợi dụng lòng tin của bị hại khi bị hại vừa đưa điện thoại ra thì bị cáo H đã giật lấy điện thoại rồi bỏ chạy, sau đó các bị cáo đem tài sản đi bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trong qua trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thành P và Nguyễn Anh H đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Tại bản kết luận định giá số 69/KLĐGTS-TCKH ngày 08/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, dung lượng 128GB có giá trị là 12.000.000 đồng. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hành vi của các bị cáo vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người khác nên cần phải có mức án phù hợp đối với bị cáo để giáo dục và phòng ngừa chung.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo xét thấy: Các bị cáo là người chưa thành niên còn là học sinh, gia đình cũng đã khắc phục hậu quả cho người liên quan, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu, các bị cáo nhận thức được lỗi lầm, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Bị cáo H thời điểm phạm tội 15 tuổi là học sinh, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có khả năng tự cải tạo. Bị cáo P thời điểm phạm tội 16 tuổi là học sinh, từ khi được tại ngoại đến nay bị cáo chấp hành tốt quy định pháp luật, nhận thức được lỗi lầm đi học và hoàn thiện bản thân tốt hơn, có khả năng tự cải tạo. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 90, 91 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy thời gian tạm giam các bị cáo trong thời gian qua cũng đủ răn đe các bị cáo, xét nên cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội đối với các bị cáo là phù hợp.
Đồng thời, các bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, nên việc bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù sẽ kéo theo nhiều hệ lụy gây khó khăn thêm cho gia đình bị cáo, làm tăng gánh nặng cho xã hội, việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, để tạo điều kiện cho bị cáo hòa nhập cộng đồng, lao động, sửa chữa lỗi lầm, trở thành người lương thiện, sống có ích cho xã hội và thể hiện tinh thần nhân đạo, chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự. Xét thấy, các bị cáo có đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018 ngày 15/5/2018 và tại Điều 1 Nghị quyết 01/2022 ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 3 của Nghị quyết 02/2018. Đồng thời, bị cáo P đã bị tạm giam 05 tháng, bị cáo H đã bị tạm giam hơn 10 tháng, đã đủ răn đe và giáo dục các bị cáo. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là phù hợp với quy định pháp luật.
Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, Luật sư bào chữa cho các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo và bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB lưu trữ video clip vụ cướp giật.
Tiêu hủy:
- - 01 quần jean dài màu đen, 01 áo thun polo màu đen, 01 đôi dép quai ngang màu trắng (là trang phục P mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản).
- - 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 áo khoác vải dài tay màu đen, 01 đôi dép xốp màu xám (là trang phục Hào mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản).
Trả lại cho bị cáo P:
- - 01 điện thoại di động hiệu S 10 (là tài sản cá nhân của P).
Trả lại cho bị cáo H:
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus (là tài sản cá nhân của Nguyễn Anh H).
Về trách nhiệm dân sự:
- + Người bị hại Phan Minh T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- + Ông Hoàng Văn K đề nghị bồi thường số tiền 3.000.000 đồng (Ông Nguyễn Thành N – cha của bị cáo Nguyễn Thành P đã bồi thường số tiền trên cho ông K theo giấy xác nhận ngày 11/9/2023)
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu án phí 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, Điều 38, điểm b, s khoản 1, Điều 51, Điều 65, Điều 90, Điều 91 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành P 03 (ba) năm tù, về tội “Cướp giật tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, Điều 38, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 65, Điều 90, Điều 91 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Anh H nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- Giao bị cáo Nguyễn Thành P cho Ủy ban nhân dân Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
- Giao bị cáo Nguyễn Anh H cho Ủy ban nhân dân Phường B1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về vật chứng:
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Lưu hồ sơ vụ án:
- - 01 USB lưu trữ video clip vụ cướp giật.
Tiêu hủy:
- - 01 quần jean dài màu đen, 01 áo thun polo màu đen, 01 đôi dép quai ngang màu trắng.
- - 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 áo khoác vải dài tay màu đen, 01 đôi dép xốp màu xám.
Trả lại cho bị cáo P:
- - 01 điện thoại di động hiệu S 10 (là tài sản cá nhân của P).
Trả lại cho bị cáo H:
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus (là tài sản cá nhân của Nguyễn Anh H).
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, chứng cứ ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan điều tra Công an quận B với Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh).
Về trách nhiệm dân sự:
- + Bị hại Phan Minh T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm.
- + Ông Hoàng Văn K đề nghị bồi thường số tiền 3.000.000 đồng (Ông Nguyễn Thành N – cha của bị cáo Nguyễn Thành P đã bồi thường số tiền trên cho ông K theo giấy xác nhận ngày 11/9/2023)
Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo. Người bào chữa cho các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ yết bản án.
Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Minh Thuận |
Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 138/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn THành Phúc và Nguyễn Anh Hào cướp giật tài sản
