|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA Bản án số: 138/2024/HS-ST Ngày 21 - 6 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Lan Anh, bà Lèo Thị Chan.
Thư ký phiên tòa: Mai Thanh Nghị - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Quàng Văn M, sinh ngày 08 tháng 10 năm 1984 tại huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản Nong Xưa, C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Quàng Văn K (đã chết) và bà Cà Thị K1, sinh năm 1955; bị cáo có vợ là Tòng Thị H, sinh năm 1988 và có 03 con (con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2015) Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/11/2023 đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Phương V, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý - Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 30 phút ngày 11/11/2023, tổ công tác Công an huyện M, tỉnh Sơn La đang làm nhiệm vụ tại khu vực tiểu khu P, thị trấn Í, huyện M phát hiện bắt quả tang Quàng Văn M, sinh năm 1984, trú tại bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đang có hành vi Vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng. Vật chứng thu giữ: 09 viên đạn bằng kim loại, trong đó 06 viên có vỏ đạn và đầu đạn màu nâu, 03 viên có vỏ đạn và đầu đạn màu đồng (M khai vận chuyển thuê để nhận 500.000 đồng tiền công), 01 xe máy nhãn hiệu SINO HONDA, BKS: 26F5-3112.
Ngày 12/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định gửi phòng K2 Công an tỉnh S, để giám định đối với 09 viên đạn ký hiệu từ A1 đến A9, có phải là đạn quân dụng không, kết quả:
Tại Kết luận giám định số 2526/KL-KTHS ngày 13/11/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu A1, A2, A3 là đạn quân dụng cỡ 7,62 x 39mm; thường được sử dụng cho súng AK47, CKC, K63, RPD...; đạn vẫn còn sử dụng để bắn được. Mẫu gửi giám định ký hiệu A4 đến A9 là đạn quân dụng cỡ 7,62 x 51mm, thường được sử dụng cho súng máy, súng bắn tỉa, súng trường như: Rheninmetall MG3, M130, M60, M240, Heckler & Koch G, AmaLite Å10, FNFAL, M14, M24...; đạn vẫn còn sử dụng để bắn được”.
Quá trình điều tra Quàng Văn M1 nhận:
Khoảng 17 giờ ngày 11/11/2023, Quàng Văn M điều khiển xe máy đi từ nhà ở bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đến trung tâm huyện M chơi, đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 11/11/2023 thì quay về nhà. Trên đường về đi đến khu vực tiểu khu P, thị trấn Í, huyện M thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đứng ở đường vẫy tay gọi M. Lúc này M dừng xe lại thì người đàn ông nói “em có nhận síp hàng từ đây xuống ngã ba bản Chông, xã C, huyện M không?” Miện có hỏi là hàng gì, có nguy hiểm không thì người đàn ông đó nói “chỉ có mấy viên đạn quân dụng thôi, nếu đồng ý thì mang đến ngã ba bản Chông, thì người nhận sẽ trả 500.000 đồng tiền công”. Do cần tiền chi tiêu và tiện đường về nhà nên M đồng ý, người đàn ông bảo M đợi một lúc, còn người đàn ông đó đi đâu khoảng 05 phút rồi quay lại cầm theo 01 túi nilon màu xanh, trong đựng 01 ống trụ dạng hình tròn làm bằng bìa cát tông màu nâu dán kín bằng băng dính và tháo một đầu kéo ra cho M kiểm tra thấy 01 túi nilon màu xanh bên trong có chứa 09 viên đạn, sau đó người đàn ông gói lại như ban đầu và đưa cho M treo vào giá để hàng phía trước bên phải xe máy của M rồi đi về, khi vừa đi được khoảng 05 đến 10 phút (vẫn thuộc tiểu khu P, thị trấn Í, huyên M) thì bị tổ công tác Công an huyện M yêu cầu dừng xe để kiểm tra, M tự giác lấy túi đựng 09 viên đạn giao nộp. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.
Tại cáo trạng số: 65/CT-VKS-P1 ngày 12/04/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Quàng Văn M về tội: Vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng, quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa:
Bị cáo Quàng Văn M nhất trí với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La và khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không khai báo gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La luận tội: Giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Quàng Văn M từ 12 đến 16 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng và án phí: Đề nghị giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh S tiếp nhận xử lý theo thẩm quyền 09 viên đạn quân dụng. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe máy thu giữ của bị cáo. Tịch thu tiêu huỷ số vật chứng không có giá trị sử dụng. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố, bị cáo chưa tiền án tiền sự, sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, am hiểu pháp luật có phần hạn chế, thuộc diện trợ giúp pháp lý; sau khi bị bắt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc diện gia đình có công với cách mạng (có ông ngoại được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba). Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, mở lượng khoan hồng xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt. Ngoài ra do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Quàng Văn M2 trí với quan điểm của luật sư bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo Quàng Văn M: Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa và lời khai tại cơ quan điều tra là đồng nhất, phù hợp với nội dung cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, đã thể hiện: Ngày 11/11/2023 Quàng Văn M đã thực hiện hành vi vận chuyển trái phép 09 viên đạn quân dụng từ tiểu khu P, thị trấn Í, huyện M đến ngã ba bản Chông, xã C, huyện M, mục đích để được hưởng 500.000 đồng tiền công. Khi đang trên đường vận chuyển đến tiểu khu P, thị trấn Í, huyện M thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện M lập hồi 19 giờ 30 phút ngày 11/11/2023, tại Tiểu khu P, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La, đối với Quàng Văn M cùng vật chứng thu giữ.
- Kết luận giám định số 2526/KL-KTHS ngày 13/11/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu A1, A2, A3 là đạn quân dụng cỡ 7,62 x 39mm; thường được sử dụng cho súng AK47, CKC, K63, RPD... đạn vẫn còn sử dụng để bắn được. Mẫu gửi giám định ký hiệu A4 đến A9 là đạn quân dụng cỡ 7,62 x 51mm, thường được sử dụng cho súng máy, súng bắn tỉa, súng trường như: Rheninmetall MG3, M130, M60, M240, Heckler & Koch G, AmaLite Å10, FNFAL, M14, M24...; đạn vẫn còn sử dụng để bắn được”.
Từ những căn cứ nêu trên, đủ cơ sở kết luận bị cáo Quàng Văn M đã phạm tội “Vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố đối với bị cáo.
- Về khung hình phạt: Quàng Văn M đã có hành vi vận chuyển trái phép 09 viên đạn quân dụng, mục đích để được hưởng 500.000 đồng tiền công, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm”, quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân:
Tại báo cáo nhân thân đối tượng ngày 12/11/2023 của Công an xã C, huyện M. Quàng Văn M là đối tượng có biểu hiện nghi vẫn sử dụng chất ma tuý, thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không chấp hành tốt quy ước, hương ước của địa phương nơi cư trú.
Tình tiết tăng nặng:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ:
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông ngoại được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Bị cáo Quàng Văn M có đủ nhận thức để biết đạn quân dụng là vũ khí nguy hiểm, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng con người; nhà nước nghiêm cấm cá nhân, tổ chức có hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển vũ khí quân dụng khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, nhưng do coi thường pháp luật, hám lợi nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi vận chuyển 09 viên đạn thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi bị cáo thực hiện không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước trong việc quản lý về vũ khí quân dụng, mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Quan điểm luận tội đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật, cần chấp nhận.
- Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 304 Bộ luật Hình sự có quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy, bị cáo không có tài sản có giá trị nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về nguồn gốc 09 viên đạn và đối tượng liên quan: Về nguồn gốc 09 viên đạn quân dụng đã thu giữ, bị cáo Quàng Văn M khai vận chuyển thuê cho một người đàn ông dân tộc Mông không biết họ tên, địa chỉ, bị cáo không có số điện thoại của người giao cũng như người nhận 09 viên đạn. Ngoài lời khai của bị cáo, Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác minh mở rộng vụ án.
- Về vật chứng của vụ án:
Đối 09 viên đạn (Kết luận là đạn quân dụng), cần giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La tiếp nhận, xử lý theo thẩm quyền.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SINO HONGDA màu xanh đen, số khung XA028028, số máy: HD1P50FMG, xác định bị cáo sử dụng vào việc vận chuyển trái phép đạn quân dụng, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 biển kiểm soát số 26F5-3112 (Theo phiếu trả lời xác minh của phòng CSGT Công an tỉnh S thì chiếc BKS 26F5-3112 là của xe mô tô khác), cần tịch thu tiêu hủy cùng các đồ vật không có giá trị sử dụng gồm: 02 túi ni lon (ni lông) màu xanh qua sử dụng; 01 chiếc ống tự chế hình trụ tròn làm bằng bìa cát tông màu nâu.
- Về án phí: Bị cáo Quàng Văn M là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn M phạm tội Vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng. Xử phạt bị cáo Quàng Văn M 3 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 11/11/2023).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 64, Điều 66, Điều 73 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017.
2.1. Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh S tiếp nhận, xử lý theo thẩm quyền:
01 (Một) chiếc phong bì của Phòng K2 Công an tỉnh S còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Công an tỉnh S- Phòng K2 - Phong bì niêm phong, Vật chứng vụ Quàng Văn M, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng, xảy ra ngày 11/11/2023 tại tiểu khu P, thị trấn Í, huyện M. Niêm phong hồi 16 giờ 30 phút, ngày 13/11/2023 tại phòng KTHS Công an tỉnh S. Gồm có 09 viên đạn ký hiệu từ A1 đến A9”. Mặt sau phong bì tại mép giáp lai dán 01 giấy niêm phong số 0019344 có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và 02 dấu tròn đỏ của phòng KTHS Công an tỉnh S.
(Theo kết luận giám định số 2526/KL-KTHS ngày 13/11/2023 của phòng KTHS Công an tỉnh S thì: 09 viên đạn thu giữ đều là đạn quân dụng).
2.2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu SINO HONGDA màu xanh đen, số khung XA028028, số máy: HD1P50FMG, xe gắn biển kiểm soát 26F5-3112, xe không có nắp hộp xích, không có yếm, không có gương chiếu hậu, yên xe gắn một giá sắt đèo hàng, xe đã qua sử dụng cũ (Theo phiếu trả lời xác minh xe ngày 19/12/2023 của phòng CSGT Công an tỉnh S thì chiếc BKS 26F5-3112 là của xe mô tô khác). Tại thời điểm giao, nhận không kiểm tra máy móc, thiết bị bên trong và tình trạng hoạt động của chiếc xe, hai bên giao nhận đã niêm phong một số vị trí chiếc xe để bảo quản theo quy định.
2.3. Tịch thu tiêu huỷ:
02 (Hai) túi ni lon (ni lông) màu xanh qua sử dụng; 01 (Một) chiếc ống tự chế hình trụ tròn làm bằng bìa cát tông màu nâu; 01 biển kiểm soát: 26F5-3112.
3. Về án phí:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn M.
4. Về quyền kháng cáo Bản án:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/6/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Tuấn Minh |
Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng (criminal case)
- Số bản án: 138/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng
