|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 138/2024/HS-ST
Ngày 12 - 6 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
* Tại điểm cầu trung tâm - Hội trường xét xử số I, trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thành Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đăng Cường;
- Bà Lê Thu Thúy.
- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Vân Anh, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Trần Trung Hiếu - Kiểm sát viên.
* Tại điểm cầu thành phần - Phòng xét xử trực tuyến, Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Bùi Xuân H - Kiểm sát viên.
- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Vũ Phương T.
- Cán bộ, chiến sỹ thuộc Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh tham gia tố tụng: ông Lê Xuân C và ông Tô Ngọc K.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm và Điểm cầu thành phần nêu trên, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 177/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn S; sinh ngày 04 tháng 8 năm 1996, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú: tổ B, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị S1; chưa có vợ, con. (Bị cáo khai có vợ chưa đăng ký kết hôn là Nguyễn Thị T1 và có 01 con sinh ngày 09/7/2020 do bị cáo trực tiếp nuôi dưỡng, nhưng Giấy khai sinh của con để trống phần ghi họ tên người cha); tiền án: không; tiền sự: ngày 21/5/2022, bị Công an thành phố C, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 200.000 đồng, về hành vi gây mất trật tự công cộng. Ngày 01/6/2022, bị cáo nộp xong tiền phạt; bị tạm giữ từ ngày 17/12/2023; tạm giam từ ngày 26/12/2023; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại điểm cầu thành phần.
2
- Những người làm chứng (do Tòa án triệu tập đến điểm cầu trung tâm):
- Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1993; nơi thường trú: tổ A, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện tại: P, nhà nghỉ P1, tổ D, khu F, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt;
- Anh Cao Văn P, sinh năm 1991; nơi cư trú: tổ I, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt;
- Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1994; nơi cư trú: tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt;
- Chị Triệu Mai A, sinh năm 1998; nơi thường trú: số F đường N, phường N, quận L, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: số I H, phường C, quận B, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 01/2023, Nguyễn Văn S mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Từ tháng 4/2023 đến ngày 17/12/2023, tại các địa bàn huyện V, thành phố C và thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, S nhiều lần có hành vi bán trái phép chất ma túy, cụ thể:
Lần thứ nhất: khoảng tháng 4/2023, tại khu vực quán bar O thuộc tổ E, khu F, phường C, thành phố C, Nguyễn Văn S đã bán cho Cao Văn P 01 (một) gam ma túy loại Ketamine, với giá 1.500.000 đồng. P trả tiền mặt cho S.
Lần thứ hai: khoảng tháng 6/2023 tại khu vực vòng xuyến sân bay V, thuộc huyện V, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn S đã bán cho Triệu Mai A 02 (hai) túi ma túy loại Ketamine, với giá 4.000.000 đồng. Mai A đã trả tiền mặt cho S.
Lần thứ ba: khoảng 22 giờ ngày 21/10/2023, tại tổ A, khu H, phường C, thành phố C, Nguyễn Văn S bán cho Nguyễn Thị H2 01 (một) túi ma túy loại Ketamine với giá 2.500.000 đồng. H2 đã chuyển khoản cho S số tiền 2.500.000 đồng đến số tài khoản 107870350965 mở tại V mang tên Nguyễn Văn S.
Lần thứ tư: khoảng 22 giờ ngày 15/12/2023, tại khu vực gần chợ Đ1 thuộc đường T, thành phố C, Nguyễn Văn S bán cho Cao Văn P 01 (một) gam ma túy loại Ketamine với giá 1.500.000 đồng. P đã chuyển khoản cho S số tiền 1.200.000 đồng đến số tài khoản 107870350965 tại V mang tên Nguyễn Văn S và trả 300.000 đồng tiền mặt.
3
Khoảng 13 giờ ngày 17/12/2023, Triệu Mai A nhắn tin qua ứng dụng zalo cho S đặt mua 02 (hai) gam ma tuý Ketamine với giá 3.000.000 đồng và hẹn đến khu vực trước sảnh chung cư G, thuộc tổ D, khu F, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh để giao dịch. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, S cầm theo 01 (một) túi ma túy đến điểm hẹn thì bị Công an tỉnh Q phối hợp cùng Công an phường Y, thành phố H, kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của S 01 (một) túi nilon, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone mang số thuê bao 0383.208.399.
Tại bản kết luận giám định số 1786/KL-KTHS ngày 23/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Chất tinh thể màu trắng có trong 01 (một) túi nilon, thu giữ của Nguyễn Văn S là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 1,54 gam (một phảy năm tư gam).
Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ nội dung sự việc như đã nêu trên. Bị cáo còn khai: từ tháng 01/2023, bị cáo thường đến khu vực quảng trường thuộc phường C, thành phố C để mua ma tuý của một người tên Đ (không rõ lai lịch, địa chỉ) về sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 16/12/2023, bị cáo tiếp tục mua của Đ 02 gam ma tuý Ketamine, với giá 3.000.000 đồng, bị cáo đã sử dụng một phần, số còn lại để bán. Ngày 17/12/2023, khi Triệu Mai A nhắn tin cho bị cáo hỏi mua ma túy và hẹn đến chung cư G, thuộc phường Y, thành phố H giao, bị cáo mang ma túy theo và thuê anh Phạm Văn H1 là lái xe taxi chở đến điểm hẹn. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi bị cáo đang chờ ở điểm hẹn thì bị Công an phát hiện, bắt giữ. Tại phiên tòa, bị cáo khai: sau khi bị Công an bắt quả tang, bị cáo tự nguyện khai ra những lần bán ma túy cho P, H2 và Mai A trước đó. Quá trình điều tra, bị cáo tự nguyện khai báo, không bị ai ép cung, mớm cung hoặc dùng nhục hình. Bị cáo thừa nhận việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, sai. Bị cáo có ông ngoại và bà nội là những người có công với Cách mạng, lúc nhỏ nuôi dưỡng, chăm sóc bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
Giai đoạn điều tra, những người làm chứng là các anh, chị Cao Văn P, Triệu Mai A và Nguyễn Thị H2 khai nhận phù hợp với lời khai của S về số lần, thời gian, địa điểm mua ma túy của bị cáo như nội dung trên. Ngày 17/2/2023, sau khi liên hệ mua ma túy của bị cáo, do không thấy bị cáo đến, không còn đủ tiền mua ma tuý và có việc cá nhân phải đi nên Mai A đã không tiếp tục liên lạc với bị cáo để mua ma tuý nữa.
Tại bản Cáo trạng số: 1005/CT-VKSHL ngày 09 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 07 (bẩy) năm đến 07 (bẩy) năm
4
06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 17/12/2023).
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì hoàn lại sau giám định số 1786; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 6s Plus) màu vàng mang số thuê bao 0383.208.399; Truy thu số tiền 9.500.000 đồng của bị cáo do bán ma túy mà có.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Về việc vắng mặt những người làm chứng tại phiên tòa, nhưng giai đoạn điều tra họ đã có lời khai về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ vẫn đảm bảo thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi theo tội danh bị truy tố:
[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người làm chứng về thời gian, địa điểm, phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo và vật chứng bị thu giữ. Quá trình thu giữ, niêm phong, bảo quản, giao nhận vật chứng có sự chứng kiến của bị cáo, người làm chứng và tiến hành giám định chất ma túy theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật, đảm bảo khách quan, trung thực và có cơ sở khoa học, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản Kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh Q, bản ảnh, sơ đồ hiện trường, biên bản nhận dạng của các đối tượng mua ma túy của bị cáo, cùng những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Quá trình tố tụng, bị cáo tự nguyện khai báo, không bị ai ép cung, mớm cung hoặc dùng nhục hình. Bị cáo thừa nhận việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, sai. Vì vậy, Hội
5
đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 4 năm 2023 đến ngày 15/12/2023, trên địa bàn huyện V và thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Nguyễn Văn S đã 04 lần bán trái phép chất ma túy cho người khác, với tổng số tiền thu được là 9.500.000 đồng. Trong đó: bị cáo bán cho Cao Văn P 02 lần; bán cho Triệu Mai A 01 lần và bán cho Nguyễn Thị H2 01 lần. Đến 17 giờ ngày 17/12/2023, tại khu vực trước sảnh chung cư G thuộc tổ D, khu F, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Nguyễn Văn S còn cất giấu trái phép 1,54 gam ma túy Ketamine trên người mục đích để bán cho Triệu Mai A, nhưng chưa bán được thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Q phối hợp cùng Công an phường Y, thành phố H, phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
[2.2] Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: ...
b) Phạm tội 02 lần trở lên;”...
Ketamine là chất ma túy bị Nhà nước tuyệt đối cấm sử dụng trong đời sống xã hội theo quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.
[2.3] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, không được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cho phép mua bán, tàng trữ, sử dụng chất ma túy, biết việc mua bán, tàng trữ, sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có cơ sở pháp luật.
[2.4] Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến trật tự quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an xã hội, làm bất bình trong quần chúng nhân dân địa phương. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe về tinh thần, thể chất và tài sản của người sử dụng, gây lo lắng, buồn phiền cho những người thân trong gia đình, mà còn là một trong những nguyên nhân làm lan truyền bệnh tật và các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh.
[2.5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội, bị cáo không những đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội bị bắt quả tang (vào 17 giờ 20 phút ngày 17/12/2023) mà còn tự nguyện khai ra những lần phạm tội (bán ma túy) trước đó cho các đối tượng khác khi chưa bị các cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện và sau đó bị cáo mới bị truy tố theo điểm b (phạm tội 02 lần trở lên) khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Hồ sơ vụ án thể hiện: việc tự khai và lấy lời khai của các đối tượng P (vào 13 giờ 30 phút ngày 17/12/2023), H2 (08 giờ 30 phút ngày 25/01/2024) và Mai A (vào 15 giờ 20 phút ngày 14/3/2024) đều khai
6
mua ma túy của bị cáo sau thời điểm bị cáo khai ra những đối tượng này. Bị cáo có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; có ông nội và bà ngoại là những người có công với Cánh mạng, được Nhà nước tặng thưởng các danh hiệu cao quý, có thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng bị cáo, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm r và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đã được hướng dẫn tại mục 7 Phần I Công văn số: 16/1999/KHXX ngày 01/02/1999 và mục 7 Phần 1 Công văn số: 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 của Tòa án nhân dân tối cao. Cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa không đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tính tiết “tự thú” cho bị cáo là chưa xem xét đầy đủ, toàn diện, khách quan các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo theo quy định của pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về hình phạt chính: căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng có nhân thân xấu (đã bị xử phạt vi phạm hành chính), phạm tội rất nghiêm trọng, cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi của mình, nhưng cho bị cáo được hưởng mức án thấp của khung hình phạt bị truy tố, không những nhằm trừng trị mà còn để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, phòng ngừa chung cho xã hội, đáp ứng được mục đích của hình phạt.
[3.2] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo là người sử dụng ma túy từ lâu, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về vật chứng của vụ án: số ma túy hoàn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và chiếc sim điện thoại bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy là công cụ phạm tội, không còn giá trị, cần tịch thu và tiêu hủy; chiếc điện thoại bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma túy là công cụ phạm tội còn giá trị sử dụng, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; số tiền bị cáo bán ma túy mà có cần tịch thu (truy thu) nộp ngân sách Nhà nước.
[5] Về đối tượng (bị cáo khai tên Đ) bán ma túy cho bị cáo Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không làm rõ được nhân thân và địa chỉ cụ thể và anh Phạm Văn H1 (lái xe taxi) do bị cáo thuê, không biết bị cáo mang ma túy đi bán nên không đủ cơ sở xử lý trách nhiệm theo quy định pháp luật. Các đối tượng Cao Văn P, Triệu Mai A và Nguyễn Thị H2 mua ma túy của bị cáo để sử dụng chưa bị xử lý,
7
Hội đồng xét xử kiến nghị Công an thành phố H thực hiện thủ tục xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 251, các điểm r và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 07 (bẩy) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 17 tháng 12 năm 2023).
2. Căn cứ vào: các điểm a, b và c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1, các điểm a, b và c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021):
+ Tịch thu và tiêu hủy: 1,49 gam Ketamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 1786/KL-KTHS ngày 23/12/2023 của Phòng K1, Công an tỉnh Q và 01 (một) sim điện thoại;
+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại nhãn hiệu iPhone (kiểu dáng Iphone 6s Plus) màu vàng.
Tình trạng những vật chứng nêu trên theo Biên bản giao vật chứng, tài sản số: 197/BB-THA ngày 15 tháng 5 năm 2024 giữa Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
+ Tịch thu (truy thu) nộp ngân sách Nhà nước số tiền 9.500.000đ (chín triệu năm trăm nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Văn S do bán ma túy mà có.
3. Căn cứ vào: các khoản 1 và 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); điểm a khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ vào: các khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021): bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Căn cứ vào: các điều 6, 45, 46 và 326 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); Điều 17 của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014: kiến nghị Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh thực hiện thủ tục xử lý vi phạm hành chính đối với Cao Văn P, Triệu Mai A và Nguyễn Thị H2 theo đúng quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Lâm |
Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 138/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ tháng 4 năm 2023 đến ngày 15/12/2023, trên địa bàn huyện V và thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Nguyễn Văn S đã 04 lần bán trái phép chất ma túy cho người khác, với tổng số tiền thu được là 9.500.000 đồng. Trong đó: bị cáo bán cho Cao Văn P 02 lần; bán cho Triệu Mai A 01 lần và bán cho Nguyễn Thị H2 01 lần. Đến 17 giờ ngày 17/12/2023, tại khu vực trước sảnh chung cư G thuộc tổ D, khu F, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Nguyễn Văn S còn cất giấu trái phép 1,54 gam ma túy Ketamine trên người mục đích để bán cho Triệu Mai A, nhưng chưa bán được thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Q phối hợp cùng Công an phường Y, thành phố H, phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
