Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 138/2024/HS-PT

Ngày 18 tháng 9 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Giao

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hà và ông Đào Chí Keo

- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Trương Khang- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Hải - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 195/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thùy T và Lâm Thị Giang H do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1970 tại An Giang; nơi cư trú: khóm T, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn R (chết) và bà Nguyễn Thị N; chồng Nguyễn Văn L; con có 03 người, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 2004; Nhân thân: Ngày 02/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm tính từ ngày tuyên án, về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong ngày 02/12/2016; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/8/2023 đến đến nay, có mặt tại phiên tòa.
  2. Lâm Thị Giang H, sinh năm 1992 tại An Giang; nơi cư trú: khóm Thị 2, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Phật giáo Hòa hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn L1 (đã chết) và bà Đặng Thị Thanh T1; chồng Nguyễn Chí H1 (chết), có 01 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/8/2023 đến đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị nên Hội đồng xét xử không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 11/2022, Lâm Thị Giang H nảy sinh ý định bán số đề rồi nộp phơi cho người khác nhằm thu lợi. Để thực hiện ý định, H đến gặp và thỏa thuận với Nguyễn Thị Thùy T về việc H bán số lô, số đề ba miền (B, T2, N1) và nộp phơi đề cho T để được hưởng huê hồng, cách thức bằng nhắn tin qua zalo thì được T đồng ý. Theo đó, trước khi xổ số khoảng 30 phút, H tổng hợp những người đã mua số lô, số đề của H thành phơi đề rồi nhắn tin hoặc chụp hình sau đó sử dụng tài khoản zalo của mình nộp phơi đề cho T qua tài khoản zalo của T. Khi có kết quả xổ số, H và T tính tiền thắng thua và tiền huê hồng, sáng ngày hôm sau thì H đến gặp trực tiếp T để chung chi tiền đánh bạc hoặc chuyển vào tài khoản Ngân hàng của Nguyễn Nguyên N2 (con trai T). Bằng cách đó, từ ngày 02/11/2022 đến ngày 21/11/2022, tổng cộng H đã bán số đề các đài Miền Nam được 386.715.000 đồng, các đài Miền Trung được 57.874.500 đồng, các đài Miền B được 125.389.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số trong ngày, số tiền trúng giải các đài Miền Nam là 361.320.000 đồng, các đài Miền Trung là 53.960.000 đồng, các đài Miền Bắc là 117.760.000 đồng. Tổng số tiền H và T đánh bạc là 1.103.018.500 đồng, trong đó, mỗi ngày H và T đánh bạc số tiền thấp nhất là 18.790.000 đồng, cao nhất là 212.718.000 đồng. Trong thời gian đánh bạc, H được hưởng tiền huê hồng từ T là 25.044.500 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thùy T, Lâm Thị Giang H phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy T 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù và bị cáo Lâm Thị Giang H 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo P, các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm,

Ngày 01/7/2024, bị cáo Nguyễn Thị Thùy T có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lý do kháng cáo: hoàn cảnh gia đình khó khăn; bản thân bị cáo đã lớn tuổi, đã ăn năn hối cải; mẹ bị cáo già, chồng bị cáo mổ mắt, không có người chăm sóc con bị cáo bị bệnh trầm cảm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngày 07/7/2024, bị cáo Lâm Thị Giang H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng chết phải một mình nuôi con nhỏ nên nhất thời phạm tội; bị cáo đã nộp được 5.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính, xin được giảm nhẹ hình phạt về nuôi con nhỏ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Thùy T, Lâm Thị Giang H, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt từ 03 đến 06 tháng tù cho các bị cáo.

Bị cáo T và H không có ý kiến tranh luận, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo đã ăn năn, cam kết không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thùy T, Lâm Thị Giang H hợp lệ, kháng cáo trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét giải quyết.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về tội danh:

Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cao T và H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ để xác định:

Từ ngày 02/11/2022 đến ngày 21/11/2022, H đã bán số đề các đài Miền Nam được 386.715.000 đồng, các đài Miền Trung được 57.874.500 đồng, các đài Miền B được 125.389.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số trong ngày, số tiền trúng giải các đài Miền Nam là 361.320.000 đồng, các đài Miền Trung là 53.960.000 đồng, các đài Miền Bắc là 117.760.000 đồng; từ đó, tổng số tiền H và T đánh bạc là 1.103.018.500 đồng, trong đó, mỗi ngày H và T đánh bạc số tiền thấp nhất là 18.790.000 đồng, cao nhất là 212.718.000 đồng. Trong thời gian đánh bạc, H được hưởng tiền huê hồng từ T là 25.044.500 đồng.

Do đó, cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Thị Thùy T và Lâm Thị Giang H về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[5] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý. Chỉ vì mục đích vụ lợi, các bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi bán số lô, số đề cho nhiều người. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy T 4 năm 3 tháng tù và Lâm Thị Giang H với mức hình án 3 năm 9 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[6] Xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thùy T: Trong giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận được văn bản có xác nhận của chính quyền địa phương về việc gia đình bị cáo thật sự khó khăn, chồng bị cáo bị bệnh phải mổ mắt, con bị cáo bị trầm cảm (có hồ sơ bệnh án), mẹ bị cáo lớn tuổi không ai chăm sóc.

Đối với bị cáo Lâm Thị Giang H: Trong giai đoạn phúc thẩm, bị cáo đã nộp một phần tiền khắc phục hậu quả theo bản án hình sự sơ thẩm, bị cáo nộp giấy xác nhận là con của Thương binh Lâm Văn L1.

Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, phát sinh tại giai đoạn phúc thẩm chưa được cấp sơ thẩm áp dụng. Do đó, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.

[7] Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[8] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thùy T và bị cáo Lâm Thị Giang H; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Thùy T, Lâm Thị Giang H phạm tội “Đánh bạc”

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy T 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày tạm giam (ngày 08/8/2023).
  2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lâm Thị Giang H 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày tạm giam (ngày 08/8/2023).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị Thùy T, Lâm Thị Giang H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang (1);
  • - Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới (4);
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới (1);
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới (1);
  • - Trại tạm giam – Công an tỉnh An Giang (2);
  • - Sở Tư pháp tỉnh (1);
  • - Phòng lưu trữ hồ sơ - Công an tỉnh (1);
  • - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án (1);
  • - Bị cáo (2);
  • - Lưu: hồ sơ, Tòa Hình sự; VP (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Giao

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2024/HS-PT ngày 18/09/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 138/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger