Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH

TỈNH NGHỆ AN

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 138/2023/HSST

Ngày 28/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Văn Hưng
  2. Ông Trần Danh Phú

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Hưng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa:

Ông Hồ Văn Nam - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 130/2023/HSST, ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn T. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Sinh ngày: 03 tháng 5 năm 1989 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An;

Nơi cư trú: xóm P, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12;

Con ông: Hoàng Văn N (Đã chết) và bà Trần Thị T1 – Sinh năm: 1967

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Ngày 28/10/2021, Tòa án nhân dân huyện Yên Thành xử phạt 1 năm tù về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự tại bản án số 131 ngày 28/10/2021. Chấp hành xong ngày 08/8/2022.

- Nhân thân:

+ Ngày 26/12/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar, Đắk Lắk xử phạt 2 năm tù về 2 hai tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự tại Bản án số 135/2012/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/7/2014.

+ Ngày 22/7/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xử phạt 1 năm 3 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự tại Bản án số 24/2014/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/10/2015.

Tiền sự: Không

Bị can Hoàng Văn T bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2023 đến ngày

Người bị hại:

  1. Vũ Thị B, sinh năm 1962, ( vắng mặt)
  2. Trú tại xóm 1, xã Lý Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An

  3. Anh Chu Văn Đ (vắng mặt)
  4. Trú tại xóm C, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An

  5. Chị Nguyễn Thị H. Trú tại : xóm P, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An (vắng mặt)

Người liên quan: Nguyễn Xuân T2- sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: xóm V, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 18/8/2023 đến ngày 14/9/2023, Hoàng Văn T đã thực hiện 02 hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Hành vi thứ nhất: Vào khoảng 12 giờ 20 phút ngày 18/8/2023 Hoàng Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 37P1- 031.07 của T, đi từ nhà đến Bệnh viện đa khoa huyện Y để thăm cô ruột đang điều trị bệnh tại khoa nội. Sau đó, Hoàng Văn T đi đến phòng bệnh số 3, tầng 1, khoa ngoại, tại đây, T quan sát thấy chị Vũ Thị B, sinh năm 1962, trú tại xóm A, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An đang nằm ngủ và có 01 (một) chiếc điện thoại SAMSUNG GALAXY A32, sau đó ốp lưng có số tiền là 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng) để ở đầu giường bệnh, T đi vào lấy điện thoại và số tiền trên cất dấu vào túi trước áo khoác che nắng rồi T lấy xe máy đi về. Trên đường đi T gặp một người qua đường và đã bán xe mô tô cho người đó (không rõ tên tuổi địa chỉ). Sau đó, T đi đến quán sửa điện thoại ở huyện D, Nghệ An (Thiều không nhớ địa chỉ cụ thể của quán, cũng như không biết họ tên, địa chỉ chủ quán), để nhờ phá khóa điện thoại (khi nhờ phá khóa T nói do quên mật khẩu). Sau khi phá khóa xong, T lấy chiếc điện thoại đó để sử dụng rồi đón xe khách đi tỉnh Đắk Lắk để làm thuê

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y, Nghệ An kết luận: “- 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, số loại GALAXY A32, số sêri: RF8T50A02EJ, số IMEI 1: 352473676762589, số IMEI 2: 354866126762588, điện thoại đã qua sử dụng (điện thoại mua mới tháng 9/2022), thời điểm ngày 18/08/2023 là: 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).”

Hành vi thứ hai: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 14/9/2023, Nguyễn Xuân T2 trú tại xã V rủ T đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân. T đồng ý. T2 điều khiển xe mô tô chở T đi đến xã H, khi đến nhà của anh Chu Văn Đ, Nguyễn Xuân T2Hoàng Văn T trộm cắp 2 bì lúa bán cho anh Nguyễn Minh Q, sinh năm 1986, trú tại xóm P, xã H, huyện Y bán hai bì lúa trên có khối lượng là 82kg (tám mươi hai kilôgam) với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Sau khi bán được lúa, T2 quay về đón T, cả hai tiếp tục quay lại xã H để trộm lúa. Cả hai trộm của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1977, trú tại xóm P, xã H, huyện Y một bì lúa có khối lượng 40kg (bốn mươi kilôgam) rồi cùng nhau chở lúa đi đến đoạn đường quốc lộ 7B thuộc xã Đ, huyện D thì T xuống xe, còn T2 đưa lúa đi vào xã Đ để cho người phụ nữ không quen biết giá 228.000 đ (hai trăm hai mươi tám nghìn đồng). Số tiền bán lúa TT2 đã sử dụng hết vào mục đích cá nhân.

Cáo trạng số: 01/VKS-HS ngày 04/12/2023 của VKSND huyện Yên Thành, Nghệ An truy tố Hoàng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 18-21 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường nên miễn xét.

Án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Bị cáo không có tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; thì trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trước đây tại cơ quan điều tra, người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 12 giờ 20 phút ngày 18/8/2023, tại Bệnh viện đa khoa huyện Y, thuộc địa bàn xã T, huyện Y có hành vi trộm của chị Vũ Thị B, sinh năm 1962, trú tại xóm A, xã L, huyện Y, 01 điện thoại di động có trị giá 3.000.000đ (ba triệu đồng) và số tiền 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng).

Vào khoảng thời gian từ 13 giờ 00 phút đến 15 giờ 00 phút, ngày 14/9/2023, tại xã H, huyện Y, Hoàng Văn T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là: 02 (hai) bì lúa của anh Chu Văn Đ tại xóm C, xã H, huyện Y có trị giá là 690.000đ (sáu trăm chín mươi nghìn đồng) và 01 (một) bì lúa của chị Nguyễn Thị H tại xóm P, xã H, huyện Y có trị giá là 360.000đ (ba trăm sáu mươi nghìn đồng).

Tổng trị giá tài sản Hoàng Văn T thực hiện hành vi trộm cắp là 5.150.000đ (năm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).

Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS là có căn cứ.

Đây là một vụ án ít nghiêm trọng, xét hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, thể hiện sự liều lĩnh xem thường pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực hành vi dân sự, bị cáo đã lợi dụng sự mất cảnh giác của người bị hại, để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện hành vi vào ban ngày thể hiện sự liều lĩnh coi thường pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Thời gian vừa qua trên địa bàn huyện Y thường xuyên xảy ra các vụ trộm cắp tài sản gây hoang mang và bức xúc trong nhân dân.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm và phạm tội nhiều lần

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đầu thú,

Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, đã từng ba lần bị xử phạt về các tội phạm xâm phạm sở hữu, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nên phải xử phạt nghiêm mới đủ sức răn đe giáo dục, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian xử phạt bị cáo mức án 15-18 tháng tù, có thời gian để bị cáo cải tạo thành công dân tốt.

[5] Về trách nhiệm dân sự: người bị hại không có yêu cầu gì nên miễn xét

[6] Về xử lý vật chứng: Ngày 22/9/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã thu giữ gồm: - 02 (hai) bì lúa có khối lượng 82kg (tám mươi hai kilogam). Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Chu Văn Đ.

01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, số loại GALAXY A32 do Hoàng Văn T giao nộp. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Vũ Thị B.

Đối với chiếc xe máy Biển kiểm soát 37P1- 031.07 Thiều đã bán cho một người không quen biết, nên không thu hồi được.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h khoản 2 điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 15 ( Mười lăm ) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam đối với bị cáo, ngày 22/9/2023

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

-VKSND, CA H. Yên Thành

- TAND tỉnh Nghệ An

- THA DS H. Yên Thành

- Bị cáo; Sở tư pháp

- lưu HS vụ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2023/HSST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 138/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn T phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger