TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 138/2023/HS-ST Ngày: 05 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Công Gia.
2. Ông Phạm Văn Trương.
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
1/ Chế Tấn B – sinh năm 1989, tại Đồng Nai; nơi cư trú: số nhà B, ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: rửa xe; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: phật; con Trương Chế Tấn T (đã chết) và bà Phan Thị C – sinh năm 1963; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Tại Bản án số 384/2005/HSST ngày 14/12/2005 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 20 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, đã chấp hành xong Bản án; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/5/2023 đến ngày 28/5/2023 được áp dụng biệp pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
2/ Nguyễn Thị N – sinh năm 1977, tại Đồng Nai; nơi cư trú: số nhà H, ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: thiên chúa; con ông Nguyễn Tấn C1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1 (đã hết); chồng: Phạm Viết T2 (đã chết); con: có 04 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2002; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm
giữ từ ngày 19/5/2023 đến ngày 28/5/2023 được áp dụng biệp pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
3/ Trần Ngọc T3 – sinh năm: 1973, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: số nhà B, ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: thiên chúa; ông Trần Đình T4 – sinh năm 1942 (đã chết) và bà Bùi Thị T5 (đã chết); vợ: Trần Thị Bích N1 – sinh năm 1980; con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2022; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/5/2023 đến ngày 28/5/2023 được áp dụng biệp pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
4/ Bùi Ngọc K – sinh năm 1985, tại Đồng Nai; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: thiên chúa; con ông Bùi Ngọc Đ (đã chết) và Nguyễn Thị M (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Huyền T6 – sinh năm 1987; con: có 05 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/5/2023 đến ngày 28/5/2023 được áp dụng biệp pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
5/ Đặng Như Á – sinh năm 1976, tại Đồng Nai; nơi cư trú: ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: thợ hồ trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: thiên chúa; con ông Đặng Văn H (đã chết) và bà Lê Thị M1 – sinh năm 1955; vợ: Nguyễn Thị Mỹ H1 – sinh năm 1983; con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/5/2023 đến ngày 28/5/2023 được áp dụng biệp pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
6/ Phan Thị T7 – sinh năm 1958, tại Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: số nhà C, ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: bán vé số; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: thiên chúa; con ông Phan M2 (đã chết) và bà Võ Thị N2 (đã chết); chồng: không có; con có 02 người, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 1994; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo được áp dụng biệp pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 19 giờ 25 phút ngày 19/5/2023, tại nhà Trần Ngọc T3 thuộc ấp N, xã P, huyện T, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Chế Tấn B, Nguyễn Thị N, Trần Ngọc T3, Bùi Ngọc K, Đặng Như Á đang có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài xì tố.
Quá trình điều tra đã làm rõ: Vào ngày 19/5/2023, tại nhà Trần Ngọc T3 thuộc ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, T3 đã chuẩn bị công cụ gồm: 01 bộ bài tây, 01 tấm vải màu hồng để phục vụ cho các con bạc đến đánh bạc thắng thua bằng tiền nhằm mục đích thu tiền xâu. T3 đặt ra quy định con bạc nào thắng phải bỏ tiền xâu từ 5.000 đồng đến 10.000 đồng vào ca nhựa màu đỏ.
Buổi chiều ngày 19/5/2023, Chế Tấn B, Nguyễn Thị N, Bùi Ngọc K, Đặng Như Á, Phan Thị T7 đi đến nhà Trần Ngọc T3 tại ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai để tham gia đánh bạc với hình thức chơi bài xì tố thắng thua bằng tiền.
Hình thức đánh bạc như sau: cả nhóm quy ước mỗi người đặt cược mỗi ván 20.000 đồng, sử dụng bộ bài tây 52 lá, ván đầu chọn người rút bài ngẫu nhiên từ ván hai trở đi người thắng sẽ rút bài đầu tiên, tiếp theo mỗi người rút một lá bài từ bộ bài, lá bài đầu tiên ngửa, xong vòng đầu tiếp tục rút lá bài thứ hai, lá bài thứ hai úp, tiếp tục rút lá bài thứ ba, lá bài thứ ba ngửa, sau khi rút xong lá bài thứ ba người rút đầu tiên sẽ lựa chọn theo (không cược thêm), tố (cược thêm tối thiểu là 40.000 đồng, không quy định mức tố tối đa), úp bài (bỏ bài ngừng chơi và mất số tiền đã cược), xong vòng thứ ba tiếp tục vòng thứ tư (ngửa lá bài) sau đó tiếp tục theo, tố hoặc úp bài rút lá thứ tư xong tiếp tục rút lá thứ năm (ngửa lá bài) và chọn theo, tố hoặc úp bài, sau khi rút lá thứ năm các con bạc còn lại đối chiếu bài để phân định thắng thua theo thứ tự mậu thầu (so lá bài từ 2 đến lá A), đôi, thú, xám chi, sảnh, thùng cù lũ, tứ quý, thùng phá sảnh.
Đến 19 giờ 25 phút cùng ngày, khi Chế Tấn B, Nguyễn Thị N, Trần Ngọc T3, Bùi Ngọc K, Đặng Như Á, Phan Thị T7 đang đánh bạc dưới hình thức chơi bài xì tố thắng thua bằng tiền thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật. Riêng Phan Thị T7 bỏ chạy, ngày 22/5/2023 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đầu thú về hành vi đánh bạc của mình.
Các bị cáo đem theo số tiền dùng vào việc đánh bạc như sau: Chế Tấn B: 500.000 đồng; Đặng Như Á: 1.100.000 đồng, Nguyễn Thị N: 300.000 đồng; Bùi Ngọc K: 280.000 đồng; Phan Thị T7: 3.030.000 đồng;
Như vậy, tổng số tiền các bị cáo Chế Tấn B, Nguyễn Thị N, Bùi Ngọc K, Đặng Như Á, Phan Thị T7 sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.120.000 đồng.
Đối với Trần Ngọc T3 là chủ nhà, có hành vi đồng ý cho người khác đánh bạc tại địa điểm thuộc quyền quản lý, sử dụng của mình, cung cấp công cụ đánh bạc để những người tham gia đánh bạc với số tiền 5.120.000 đồng. Bị cáo T3 thu lợi bất chính số tiền 90.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, các bị cáo Chế Tấn B, Nguyễn Thị N, Bùi Ngọc K, Đặng Như Á, Phan Thị T7, Trần Ngọc T3 đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Vật chứng thu giữ trong vụ án:
- T5 trên chiếu bạc 5.120.000 đồng; 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 tấm vải màu hồng; 01 ca nhựa màu đỏ bên trong có chứa 90.000 đồng.
- Thu giữ của Nguyễn Thị N 11.000.000 đồng, 01 điện thoại di động Samsung A32 màu đen; thu giữ Bùi Ngọc K 01 điện thoại Samsung J7 màu đen, 01 xe ô tô biển số 60A-572.39; thu giữ của Đặng Như Á 01 xe mô tô biển số 60AC-02423.
Tại Cáo trạng số 126/CT-VKSTP –ĐN ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Chế Tấn B, Nguyễn Thị N, Bùi Ngọc K, Đặng Như Á, Phan Thị T7, Trần Ngọc T3 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội và giữ nguyên Quyết định đã truy tố; Sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật, mức hình phạt và các biện pháp tư pháp, cụ thể như sau:
- Căn cứ khoản 1, Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 và đề nghị:
- - Xử phạt Chế Tấn B từ 06 đến 08 tháng tù giam.
- Căn cứ khoản 1, Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 và đề nghị:
- - Xử phạt Phan Thị T7 từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng; xử phạt Nguyễn Thị N, Bùi Ngọc K, Đặng Như Á và Trần Ngọc T3 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước: số tiền 5.210.000 đồng vì đây là số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá, 01 ca nhựa màu đỏ vì đây là công cụ dùng vào mục đích đánh bạc, không còn giá trị sử dụng.
- Đối với tài sản số tiền 11.000.000 đồng, 02 điện thoại di động các loại, 01 xe ô tô biển số 60A-572.39; 01 xe mô tô biển số 60AC-024.23 thu giữ của các bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả cho các chủ sở hữu nên không xem xét.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Các bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị áp dụng đối với các bị cáo và không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét thấy lời khai nhận tội tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện: Vào ngày 19/5/2023, tại nhà Trần Ngọc T3 thuộc ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, T3 đã chuẩn bị công cụ gồm: 01 bộ bài tây, 01 tấm vải màu hồng để phục vụ cho các con bạc đến đánh bạc thắng thua bằng tiền nhằm mục đích thu tiền xâu. T3 đặt ra quy định con bạc nào thắng phải bỏ tiền xâu từ 5.000 đồng đến 10.000 đồng vào ca nhựa màu đỏ. Buổi chiều ngày 19/5/2023, Chế Tấn B, Nguyễn Thị N, Bùi Ngọc K, Đặng Như Á, Phan Thị T7 đi đến nhà Trần Ngọc T3 tại ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai để tham gia đánh bạc với hình thức chơi bài xì tố thắng thua bằng tiền, số tiền dùng vào việc đánh bạc là 5.210.000 đồng, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó, có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 126/CT-VKSTP –ĐN ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Chế Tấn B, Nguyễn Thị N, Bùi Ngọc K, Đặng Như Á, Phan Thị T7, Trần Ngọc T3 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương nói riêng, trong thời gian qua tệ nạn đánh bạc gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội nói chung. Đồng thời, các bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của tệ nạn cờ bạc gây ra và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với hành vi phạm tội về đánh bạc. Song vì tham lam, vụ lợi nên các bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần thiết phải đưa các bị cáo ra xét xử và áp dụng hình phạt tương xứng đối với các bị cáo để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Chế Tấn B không được hưởng tình tiết quy định tại điểm i. Ngoài ra, các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành; tuy nhiên cần phải cá thể hóa hình phạt trên số tiền tham gia đánh bạc để cụ thể hóa mức hình phạt cho tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo như sau:
Đối với bị cáo Chế Tấn B tham gia đánh bạc với số tiền 500.000 đồng, nhưng bị cáo có nhân thân xấu nên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là cao nhất so với các đồng phạm và phải là hình phạt tù giam.
Các bị cáo còn lại có nhân thân tốt nên không nhất thiết phải xử bằng luật hình giam mà xử phạt tiền cũng đủ để răn đe giáo dục các bị cáo; mức hình phạt tiền tính theo mức cao nhất tới thấp nhất, đứng đầu là bị cáo Phan Thị T7 tiếp đến các bị cáo Đặng Như Á, Nguyễn Thị N, Bùi Ngọc K, Trần Ngọc T3 có mức hình phạt ngang nhau.
Đối với Trần Ngọc T3 là chủ nhà, có hành vi đồng ý cho người khác đánh bạc tại địa điểm thuộc quyền quản lý, sử dụng của mình, cung cấp công cụ đánh bạc để những người tham gia đánh bạc với số tiền 5.120.000 đồng. Bị cáo T3 thu lợi bất chính số tiền 90.000 đồng, theo quy định thì bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Qua những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử cũng xem xét và cân nhắc giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
[6] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: số tiền 5.210.000 đồng vì đây là số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá; 01 ca nhựa màu đỏ vì đây là công cụ dùng vào mục đích đánh bạc và không còn giá trị sử dụng.
- Đối với tài sản số tiền 11.000.000 đồng, 02 điện thoại di động các loại, 01 xe ô tô biển số 60A-572.39; 01 xe mô tô biển số 60AC-024.23 thu giữ của các bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả cho các chủ sở hữu là có cơ sở nên không xét.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh đối với bị cáo, hình phạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề khác trong vụ án.
[9] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
òaHHJJJJJjjjdncncsnjcjjjjjjneqjd'unhfcowiujJjznqdsnhhudhh
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Chế Tấn B, Nguyễn Thị N, Bùi Ngọc K, Đặng Như Á, Phan Thị T7, Trần Ngọc T3 phạm tội “Đánh bạc”;
Căn cứ khoản 1, Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
- - Xử phạt bị cáo Chế Tấn B 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án (được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 19/5/2023 đến ngày 28/5/2023).
Căn cứ khoản 1, Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Phan Thị T7 30.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Đặng Như Á 25.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 25.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc K 25.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T3 25.000.000 đồng.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.210.000 đồng.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 lá; 01 ca nhựa màu đỏ.
(Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú để đảm bảo cho việc thi hành án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/10/2023 và biên lai thu tiền số 0000197 ngày 19/10/2023).
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- - Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Tuấn |
Bản án số 138/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 138/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo
